Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Chương 5- ĐÈN CÙ (Trần Đĩnh)

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
( Đầu đề do tôi  NSH -mạo muội đặt)


Mỗi số báo tôi được hai trang để tuyên truyền cải cách
ruộng đất. Chủ yếu phổ biến kinh nghiệm các đoàn
đang giảm tô giảm tức ở Thanh - Nghệ. Và kinh nghiệm cải
cách ruộng đất ở Trung Quốc. Tài liệu ở nội san các đoàn
giảm tô, bản dịch được Hòang Ước, thư ký của Hoàng Quốc
Việt, người chỉ đạo cải cách ruộng đất lúc đó gửi cho. Tóm lại
các kinh nghiệm khêu gợi căm thù và tiến hành bạo lực
(trong đó có cả chuyện Pavlik Morozov, cậu bé tố cáo bố phú
nông ở Liên Xô.)
Cải cách ruộng đất chính thức nổ pháo hiệu đầu tiên ở xã
Dân Chủ, Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trên quốc lộ 1 lên Lạng
Sơn. Đối tượng: Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long, nhân sĩ
tên tuổi trong Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ cũng như
Trung ương Mặt trận Liên Việt, người thường cùng họp long
trọng với Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt. Nay
bà trở thành địa chủ phản động, cường hào gian ác lợi dụng
tiếng thân sĩ để phá hoại cách mạng và kháng chiến, có nhiều
nợ máu với bần cố nông. Quản lý đồn điền Nguyễn Lân,
nguyên vô địch võ sĩ quyền Anh trước kia nổi tiếng khắp
Ðông Dương cũng là đối tượng đấu tố và xử bắn. Đặc biệt
Công, con trai bà Nguyễn Thị Năm, Việt Minh bí mật, nay là
chính ủy trung đoàn pháo 105 li đang học ở Côn Minh, Trung
Quốc cũng bị gọi về, treo giò.
Một tình tiết thú vị: khi tướng Pháp Cogny lập tập đoàn cứ
điểm đầu tiên ở Nà Sản mà ta không công phá được vì thiếu
đại pháo bắn cầu vồng, đơn vị pháo 105 ly của Công đã chuẩn
bị về nước tham gia chiến dịch thì Cogny rút, pháo ta bèn nán
lại học tiếp. Ai ngờ việc đó đã khiến tướng Navarre kết luận
Việt Minh không có đại pháo do đó hăng hái nhảy lên Điện
Biên Phủ và Piroth đại tá pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ đã
giật lựu đạn tự sát ngay khi pháo Việt Minh lên tiếng.
Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường
Chinh chỉ thị báo Nhân Dân tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị
Năm - Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói
phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh
sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của
bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu,
cáo trạng của đội. Tôi nói tôi không dự đấu tố thì anh bảo tôi
khai thác Văn, người cấp dưỡng theo anh tới tận Đồng Bẩm
và đã chứng kiến các buổi đấu tố. Sở dĩ báo chí không dự đấu
là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội có vài chục cây số
đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu
đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.
Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha
phách thêm nếm khó lòng tránh khỏi của người cấp dưỡng
đáng yêu của tổng bí thư.
Sống trên rừng buồn, Văn nuôi một bộ râu dài rất đẹp. Cả
vùng có lẽ chỉ có hai bộ râu tiên cốt là của Cụ Hồ và của Văn.
Nhưng Trường Chinh đã bắt anh cắt.” Anh để râu, dân cứ lầm
anh là Bác, mà chào anh Bác ạ, thì anh lại cười.”
Văn mất râu nhưng còn đôi mắt cũng quăng quắc song
mục đồng trùng. Dân lại kháo nhau: “Ông Ké dạo này giấu râu, ta chào thì quay đi.” Tôi bảo Văn khéo phải đeo kính thày bói chứ không khó lòng giữ nguyên được mắt. Xuống chợ Nỉ mà mua kính đi.
Vài anh em ở đại đội bảo vệ ATK bảo tôi nhiều đàn bà con gái địa phương thích Văn lắm nhưng anh ta không dám. Dám để có mà chết. Hôm sau họ sẽ kháo ầm là họ được Bác Hồ thương ngay.
Bài báo này tôi ký một tên ú ớ không còn nhớ và sau đó cũng không mó đến nó bao giờ. Chẳng hiểu vì sao.
Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi, CB (Bác Hồ) gửi đến bài “Địa chủ ác ghê.” Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân.” Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa - thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát - Hanh - Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể.
(Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết Bác không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm nhưng phải nghe cố vấn Trung Quốc, Hoàng Tùng vô tình hay cố tình quên bài báo Bác gây căm thù cao độ này. Đâm ra lại đổ cho Bác cái lỗi không kiên định - nghe cả điều sai vốn trái với ý mình.)
Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu mãi rồi mới kể lại.“Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van” các
anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kich quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất.Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy...
Rồi tôi được nghe truyền đạt rằng các nước anh em ở Đông Âu, không phải Bác Hồ, tỏ ý không tán thành cải cáchruộng đất mà còn bắn đầu tiên một phụ nữ.Chính ủy Công (được vinh dự CB nhắc đến trong bài báo trên kia) bị điệu từ Vân Nam về và ngồi cùng mẹ chịu đấu tố nhưng nghe nói không được dự buổi chôn cất mẹ. Nhưng đầu những năm 90, anh đã cải táng được cho mẹ rồi sau đó anh chết, lúc chỉ còn là một người bạc nhược, sợ sệt, lú lẫn.Khoảng 1980, 81, Minh Việt bị cổ chướng nằm bệnh viện,
tôi ngày ngày đến trông nhà cho anh chị và nhân tiện hiệu đính “Gia đình Ti – bô” cho Nhà xuất bản Văn học. Một sáng nọ, một người trung niên đến. Rụt rè sợ sệt hỏi chị Minh Quang (vợ Minh Việt). Tôi nói chị ấy đi làm. Thì anh nói tên anh là Công như thế như thế muốn đến xin chị Minh Quang chứng nhận cho những ngày đầu kháng chiến anh có chiến đấu ở Khu Thành Công. Ái ngại bảo anh chỗ tìm chị Minh Quang xong, tôi thăm hỏi. Anh nói quên hết cả rồi.- Còn nhớ tiếng Trung Quốc không? “Kai pao, khai pháo,
da tung xi xiang, đả thông tư tưởng, nhớ chứ?”
Lắc.
- Có 105 thì còn chỉ huy được không?
- Quên hết rồi. - Lắc, cười hiền lành.
Những chữ “quên mất rồi” ở anh nghe thê lương, kỳ lạ như từ nguyên thủy hoang vắng.
Thì chợt nói: - Cũng còn nhớ được một ít. Mặt Công hơi rạng sáng lên. Anh nói: “Cái ngày 20 tháng 8 năm 1945, báo Đông Pháp nhà tôi mua tháng gửi lên thì lại đổi thành Đông Phát, cả trang nhất đưa tin Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Tôi vội chạy đưa cho Hoàng Thế Thiện để hắn chuyển ngay tới hai ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đang chỉ huy đánh trại lính Nhật ở thị xã Thái Nguyên. Hai ông lúc ấy ở đồn điền ông
Nghiêm Xuân Yêm ở Cù Vân. Nhờ tờ báo này Trung ương mới
biết Hà Nội đã tổng khởi nghĩa...”- Công lớn quá..., tôi nói. (Nhưng bụng nghĩ Hoàng Thế Thiện sau hứng tội về vụ án một bộ phận cấp ủy cộng sản Cam - pu - chia trong có Pen Sovan chống cộng sản Việt Nam mà thoáng buồn.) Ngoài báo anh gửi đọc lại có xứ ủy cuốc bộ lên cấp báo Nhật đe cho quân tiến đánh, ông Trường Chinh bèn lệnh ngừng lại và về Hà Nội xem xét. Không thì còn thúc quân đánh rồi Nhật nó đàn áp ra sao không biết.Nhưng Công đã lại lắc đầu “quên, quên...” Lú lẫn đã thành một boong ke trú náu ở trong não từ khi anh thanh minh mình tham gia cách mạng là do yêu nước thật lòng nhưng người ta cứ nhất định bảo anh “chui vào để phá hoại cách mạng.” Nhìn anh lò dò xuống lại cầu thang ra về, tôi không khỏi thương xót cho một cơ ngơi lớn sụp đổ dễ như bỡn.Ngày Công sung sướng đưa số báo có tin Tổng khởi nghĩa
cho Trung ương, anh đâu có ngờ rồi nó sẽ đưa tan nát thảm khốc đến với gia đình anh.
Bà Năm không thể biết anh con là cựu chính ủy pháo rồi mắc chứng quên. Nhưng dân Đồng Bẩm thì không quên. Ở xã này có một quả đồi được dân tự động đặt cho nó tên một nạn nhân lớn: đồi Nguyễn Thị Năm. Đồi A1 Điện Biên Phủ thì Nhà nước đặt. So tên hai quả đồi thấy xem ra dân chuộng công minh hơn tự ca ngợi công tích.Sau Nguyễn Thị Năm một tháng đến lượt xử Cử Cáp. Phát khai hoả thứ hai. Lần này tôi đến dự buổi thi hành án: bắn.Mít tinh tuyên án vào buổi tối. Bãi đất thuộc xã Phú Xuân,
vùng chè Tân Cương. Vài trăm con người ngồi vây kín lấy một khoảnh đất trống. Khai mạc rất thình lình.
Cũng thình lình chánh án Lê Giản xuất hiện.Lại cũng rất thình lình mấy người lính giải hai đối tượng đi
ra. Cử Cáp, hơn bảy mươi tuổi, nguyên huấn đạo, ủy viên Mặt trận Liên Việt, cũng địa chủ kháng chiến, thân sĩ như Nguyễn Thị Năm, tức là thuộc diện bị chính sách cải cách ruộng đất chiếu cố. Ấn tượng mạnh nhất ở ông già là chỏm râu bạc trắng. Cạnh cụ, bí thư chi bộ nhưng nay đã thành “Quốc dân đảng” thông đồng với Cử Cáp phá hoại kháng chiến. Thấp nhỏ, chạc bốn chục tuổi, anh có cái dáng quen thuộc của cán
bộ xã ta thường hay lui tới nhà cùng cơm nước, ngủ đêm...
Không như Cử Cáp nom lớ ngớ - diễn viên chưa quen vai -anh có bộ dạng phức tạp: vừa sợ vừa khấp khởi. Đến phútcuối cùng thế nào đảng cũng hiểu bụng dạ trung thành của anh mà tha anh. Hai bị cói lép kẹp dưới nách, hai bị cáo đứng rúm ró. Duy một vật sống động, phiêu diêu tự tại: chòm râu cụ Cử Cáp. Nó cứ thanh nhàn vờn múa trong cái không gian và không khí rùng rợn, căng thẳng như đông cứng lại này. Tôi
thấy nó như đang muốn thị phạm một cách giao tiếp dễ nghe,dễ hiểu, dễ tin cậy, không phải cái lời lẽ từ nay khó lọt tai nhau.
                 Chánh án Lê Giản tuyên bố Chủ tịch nước bác đơn xin ân xá. Lim, lệt sệt đôi ủng ra hô: Giải chúng đi!
Vọt ra năm sáu người lính đẩy hai người tù quay lui. Tôi thấy thô bạo quá. Nhưng kìa, họ vừa mới quay người, tốp lính đã Quỳ rộp một cái xuống, đưa tiểu liên lên bóp cò. Lửa nhằng nhằng. Hai cái thân đổ vật. Chị cốt cán trẻ đứng bên tôi ôm chặt lấy tôi líu lưỡi lại: “Anh có dầu... dầu Con Hổ, cho em...?”
Đúng là phải dạy và nạp căm thù vào. Không thì khó có thể
tự nhiên đùng đùng bạo lực. Hai xác người nằm thẳng mềm mại. Bộ quần áo Cử Cáp xòa trắng tôn thêm mầu ánh bạc của chòm râu lên - cái vùng trắng duy nhất tinh khiết ở đây. Lịch phịch đôi ủng nặng, Lim
đến bên từng nguời bắn vào thái dương phát súng “ân huệ.” Thương, sợ và cả bất bình lẫn lộn trong tôi. Một sức mạnh nào đó không biết đã kéo tôi là đứa vốn nhát máu đến đứng trước cụ Cử Cáp.
Vô thức muốn nói với cụ một lời phân vua: “Thưa cụ, tôi không muốn thế này cho cụ...” Hay đúng hơn, chính chòm râu ông nội chợt hiện lên gọi tôi đến với nó? 
Cái bị cói vẫn trung thành lép kẹp dưới nách gầy. Cạnh nó,một quả chuông to tướng, đỏ sậm, mầu ấm Mạnh Thần, quả tim bật ra như một chồi thịt nhầy nhụa, thon thót trên ngực
người chết: cái chồi thịt, cái nụ sống ấy đang lén leo ra tìm gấp một nẻo trú ẩn riêng, xa khuất hẳn cái nơi đáng sợ này. Sáng sau, cùng một cán bộ đội - nhất đội nhì trời -, tôi vào nhà Cử Cáp. Một dãy nhà trình cổ, sơ sài trên một thềm đá ong quá cao, ngang eo tôi, nứt toác, sứt sẹo. Một mảnh sân đất đỏ quá rộng tưởng đi mãi không hết. Một bà già ngồi xổm trên thềm hai tay quàng ôm một đứa bé. Nhác thấy chúng tôi,
bà cụ vội buông hai tay đứng lên để chắp lại vái. Con mắt cháu bé lập tức trợn lên kinh hoàng. Nó kêu “E!” Một tiếng rồi chạy. Rồi ngã ịch một cái từ trên thềm cao xuống sân. Hai chúng tôi liền trở ra. Như đứa bé muốn chạy trốn khỏi đó. Tôi đi mà vẫn thấy như nguyên hai con mắt cháu bé trợn lên khiếp đảm nhìn chúng tôi rồi gieo mình từ trên thềm cao xuống mà tôi thấy rõ ở đó một hành vi quyên sinh, một cử chỉ
cự tuyệt nhìn mặt bầy dã thú! Tôi đã muốn đi đến bế cháu.Nhưng bài học lập trường giai cấp, bài học căm thù và trên hết tất cả là sự sợ đã xui tôi bỏ trốn. Tôi nhận ra từ nay có một viên tư lệnh chỉ đạo toàn bộ ứng xử của tôi: nó là cái sợ.Trước hết sợ mất lập trường là sai với đảng. Ôi, sai với đảng là sai tất cả!
Lại ký một cái tên nhăng nhít... Lạ! Vinh dự thế mà sao không lấy tên thật? Điều này lúc đó quả là khó hiểu nhưng đến nay tôi đã có thể giải thích: trong mỗi chúng ta đều có mầm tử tế chống lại cái xấu. Vấn đề là ta nuôi nó, nghe nó hay là giết nó đi thôi.
Cần nói thêm một điều: hơn mười năm sau, Lim treo cổ tự sát tại chính nhà mình.
Tôi đôi lần đọc lại danh sách người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh - Nghệ gửi lên Cụ Hồ để duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ. Bên lề, phần lớn Cụ viết “có đáng là cường hào gian ác hay không?” (hay có đúng hay không tôi không chắc vì chữ a của Cụ cũng mở gần như chữ u). Các dấu hỏi ở cuối câu đều đánh rất to còn chữ viết thì run rẩy và bé. Như một giằng co,
một phân vân. Cái dấu hỏi nổi bật hẳn lên như một tín hiệu phủ nhận dễ biểu thị đa nghĩa hơn ngôn ngữ.
Tiêu diệt giai cấp, bạo lực đồng thời hủy diệt cốt lõi nhân văn ở trong lòng những người đem chia con người ra làm ta, bạn và thù...
Xấu hổ về phản ứng tồi tàn của mình, tôi kính nể những bạn bè đã vượt được cái sợ trong cải cách ruộng đất. Trước hết là Trần Châu. Mẹ vợ anh bị bao vây ở một túp
lều chân đồi trong đồn điền chè Mỏ Bạch. Châu về thăm. Hôm trước, cô em vợ học ở Tàu về, thấy cái lều thì ghé hỏi: - Bà Lan ở đây nay ở đâu ạ? Mẹ đáp: “Dạ, không có bà Lan ạ, chỉ có
con địa chủ Lan thôi.” Cô con gái ù té chạy ra đường lên xe ngồi khóc một mình.
Rồi Đinh Văn Đảng. Hay tin mẹ nguy khốn, như con ăn mày la liếm ở chợ, Đảng bèn về cứu mẹ, nhờ người đưa mẹ ra chỗ hẹn rồi đạp xe chở mẹ lên Vinh, sáng sau đáp xe hàng ra Hà Nội. Anh nói suốt chuyến về cứu mẹ, lúc nào tim anh cũng thình thình đập, có lúc ngỡ vỡ ra đến nơi. Sau này Đảng bị
xuất huyết não, tôi cứ nghĩ cái gốc sâu xa là phải tính từ ngày anh về cứu “con mẹ ăn mày” từng thăm nuôi đứa con tù vì họat động cách mạng. Đảng kể xem phim đấu địa chủ, người xem ném ầm ầm các thứ lên màn ảnh. Thấy dép bị giật, anh cúi xuống. Bạn đồng sự ngồi cạnh anh đang hét căm thù và túm lấy dép anh để ném, dép ở chân hắn còn nguyên! “các cái vờ vịt này các ông ấy thấy cả nhưng không mắng mỏ,” Đảng
nói, vì biết có cái bột giả ấy mới gột nên chất hồ a dua mà ta hay mỹ tự là phong trào và khí thế cách mạng. Thì ra chúng ta chuyên sính dùng hàng dỏm.
Trần Lưu Hậu, họa sĩ, có một kinh lịch ghê sợ. Đi vẽ, nhân thể làm “công tác quần chúng,” anh cùng Lưu Công Nhân,cũng họa sĩ, đến nhà một thân sĩ do Mặt trận huyện giới thiệu. Hai họa sĩ được chiêu đãi quá chu đáo, đến mức Hậu áy náy, khó ngủ. Hậu hay Nhân đã vẽ vị thân sĩ. Éo le, nửa năm sau, tham gia cải cách ruộng đất, Hậu lại đến xã này và vị thân sĩ kia đã trở thành đầu sỏ bị đấu tố. Ông bị bắn. Hậu phải giấu
bao chuyện, nhất là các thắc mắc của mình quanh vị thân sĩ mà theo Hậu là rất tốt, rất yêu nước… Buồn, ân hận, phân vân, Hậu rời trường đấu và bắn về đội một mình… Thì gặp một tốp năm sáu người vội vã, lén lút như phi pháp đi ngược lại: người nhà vị thân sĩ lên lấy xác ông. Hậu bảo mình vội cúi đầu, không dám nhìn họ! Họ còn nhớ quá đi chứ! Mới hôm nào, bố họ, ông họ, vị thân sĩ mà nay là địa chủ ác ôn nằm chết
gục kia từng cơm rượu thịnh soạn tiếp hai vị họa sĩ.” Thú thật lúc ấy mình mang rõ tâm trạng một kẻ lừa gạt… Thỉnh thoảng lại chợt giơ tay lên sờ sờ mặt, ngầm xem liệu đã có nảy ra một bộ mặt khác với cái bộ mặt năm ngoái từng tay bắt mặt mừng với chính vị thân sĩ kia không.” ..

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Chương 4 ĐÈN CÙ- (Trần Đĩnh )

DÒNG SÔNG NHIỄM MẶN
( Đầu đề do tôi mạo muội đặt )
 Sau chiến dịch Tây Bắc, giải phóng Nghĩa Lộ, một phần
tỉnh Sơn La, thôi bao vây Nà Sản. Tôi và Tô Hoài đã dự
cuộc họp Võ Nguyên Giáp kết thúc chiến dịch: không đủ sức
công kiên vào tập đoàn cứ điểm đầu tiên mà Pháp gọi là “con
dím” này. Tôi thôi tùy quân ký giả, ngồi nhà phụ trách tổ cải
cách ruộng đất của báo.
Tôi náo nức, xúc động. Cả nước đang tích cực chuẩn bị
cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất giải phóng anh em
giai cấp. Cụ Hồ có bài báo tiếng Pháp đăng đầy hai trang tờ
“Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ mới,” cơ
quan ngôn luận của Kominform, sau khi Stalin và Mao lên cho
cụ một bài gân lập trường vô sản. Lúc ấy chưa đọc hồi ký
Khroutchev, tôi chưa biết: gặp Hồ Chí Minh, Stalin đã chỉ hai
cái ghế nói: ghế này của nông dân, ghế này của địa chủ, anh
ngồi vào ghế nào? Câu hỏi không giấu vẻ miệt thị và thế là ra
đời bài báo Cụ Hồ tự phê bình đã chậm tiến hành cải cách
ruộng đất. Tôi (Cụ nói) không nhớ rằng ở Việt Nam, tổ quốc
còn gọi là đất nước - đất và nước cho nông dân. Bài báo có
nghĩa cụ đã thế chấp bản lĩnh riêng để đổi lấy phe. Cụ rất
hiểu: muốn làm cách mạng thì phaỉ được phe cho nắm quyền!
Như trước kia được Quốc tế cho phép lập đảng. Và dòng sông
vào biển từ nay hoá mặn.
Chuẩn bị cải cách ruộng đất, từ giữa tháng 7 đến cuối
tháng 9 - 1953, Trung ương mở một lớp chỉnh huấn cho trí
thức trong và ngoài đảng làm việc ở chính phủ và các đòan
thể trung ương. Nhiều tên tuổi như Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn
Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Thế Lữ… đã dự học. Mục
đích sâu xa là xây dựng lập trường giai cấp, đề cao công nhân,
bần cố nông, hạ uy thế chính trị và tư tưởng của trí thức và
các giai tầng không lao động chân tay khác. Sau đó, bắt đầu
triệt để chỉnh đốn tổ chức, theo phương châm mạnh mẽ đề
bạt công nông, gạt bỏ các thành phần “không trong sạch.”
Nhưng nói chung không mấy ai nhìn trước thấy triển vọng tối
tăm, mà nếu có nhìn ra thì cũng thấy đó là điều hợp lý…
Mấy tòa nhà lán tre nứa cao rộng vây quanh hai mặt một
hội trường lớn. Riêng ở một tòa ở xế trước hội trường là ba
hay bốn chi bộ (gồm cả đảng viên lẫn không đảng phái). Chi
bộ đầu lán có Nguyễn Cao Luyện, Tạ Mỹ Duật. Liền với nó,
trên cùng một sạp giường nứa dài cả hai ba chục mét, một chi
bộ nữa và đặc biệt lại có Nguyễn Tư Nghiêm và tôi. Ở sạp đối
diện, cách một lối đi là hai chi bộ nữa. Một có Đặng Đình
Hưng và một có Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 sau
này.
Tố Hữu là bí thư học ủy. Cụ Hồ cách nhật, có khi liền ngày,
đến xem điện ảnh, liên hoan với học viên. Cụ có mấy câu nổi
tiếng trong hội trường: “Bác Hồ muốn nằm” khi mọi người hô
“Hồ Chủ tịch muôn năm.” Rồi tay chỉ vào đầu: “Từ đây thì Bác
già, nhưng từ đây (tay chỉ vào bụng) thì Bác trẻ.” Một hôm
Bác nói: “Các chú các cô không sợ người ta kêu mình kém tri
thức, ít lý luận. Họ kêu thì bảo họ rằng tôi lú nhưng chú tôi
khôn. Chú tôi là Stalin, Mao Trạch Đông...”
Lê Duẩn thường có mặt. Giảng bài chính: Lập trường giai
cấp nông dân và cách mạng dân tộc, dân chủ. Duẩn nhấn
mạnh trong bước cách mạng này, người cộng sản phải có lập
trường giai cấp nông dân để hiểu được nguyện vọng nông
dân mà kiên quyết lãnh đạo họ cải cách ruộng đất, lấy lại
quyền lợi, làm một cuộc đổi đời.
Tôi ngợ: theo Mác, Lê-nin thì người cộng sản không thể có
lập trường nào khác ngoài lập trường giai cấp công nhân. Có
điều ý kiến của Lê Duẩn chỉ nói ở trong cái lớp mấy trăm con
người này. Vả chăng không ai dám phê phán hay chất vấn sất.
Phải nhận Duẩn nhiều ý độc đáo. Như ta mất nước cho
Pháp là vì lúc đó đang là thời đại chủ nghĩa tư bản nó chiến
thắng áp đảo phong kiến. Đổ hết tội cho nhà Nguyễn là không
thấy xung đột của hai phương thức sản xuất, một đi lên, một
tàn lụi.
Duẩn mới ở trong Nam ra với biệt hiệu đơ - xăng bu - gi,
hai trăm nến (tiếng Pháp deux cents bougies - BT) chỉ sau có
Cụ Hồ xanh - xăng bu - gi, năm trăm nến.
Chúng tôi hay xúm quanh Lê Duẩn để hỏi. Phải nhận ông
có những cách giải thích độc đáo mà nay nghĩ lại thì thấy
thường là ngụy biện. Chẳng hạn trả lời tại sao chỉ có Đảng
cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chỉnh huấn còn các đảng
Âu Mỹ thì không, Duẩn nói, vì ta và Trung Quốc ít công nhân
cho nên phải bỏ công ra tỉa gọt từng đảng viên cho đa số có
được lập trường giai cấp vô sản.
Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường. Tề tựu
lâu rồi mà trên sân khấu vẫn vắng tanh. Mọi người bắt đầu
nhớn nhác thắc mắc. Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào. Theo sau là cụ
Hồ và nhiều người khác. Ông Cụ ngồi xuống ở trên cùng hàng
đầu. Tôi bỏ chỗ leo lên ngồi ngay đằng sau lưng Cụ. Tố Hữu
bước lên sân khấu, cằm đè lên hai tay bưng một vật gì ấp vào
ngực, vẻ như cố giấu cái việc anh đang quay lưng lại lúi húi
làm trên đó. Rồi cúi đầu đứng lặng một lúc khá lâu nữa. Khi
mọi người bên dưới to tiếng hỏi nhau, Tố Hữu mới từ từ quay
lại, nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông mầu
đỏ hiện lên chân dung đại nguyên soái Stalin. Bộ quân phục
trắng lốp làm nổi bật hơn lên dải băng đen viền quanh rồi
thắt nơ túm lại ở bên dưới.
Tôi thấy bàng hoàng hơn là đau buồn. Đúng hơn nữa, tôi
vẫn bị khó chịu vì cái kiểu “đánh đố loài người” của Tố Hữu.
Ông ấy hình như tranh hơn thiên hạ cả ở chỗ được biết sớm
hơn hung tin, do đó được ưu tiên đau xót trước và nhân thể
lại tranh thủ dịp thị phạm cho lớp trí thức ngồi đây thái độ
cách mạng đối với cái chết của lãnh tụ…
Trước mặt tôi, Cụ Hồ nức nở. Không ngừng đưa khăn tay
mầu trắng lên lau nước mắt và nuớc mắt thì cứ chảy trên hai
má Cụ đỏ bóng vì khóc, vì xúc động. Xong truy điệu, Cụ lập
cập đứng lên về gian phòng dành riêng cho Cụ ở đằng sau hội
trường, trong dẫy văn phòng học ủy nhìn xuống nhà ăn tập
thể. Quên hộp thuốc lá Trung Hoa Bài hình tròn ở trên ghế
bên cạnh. Tôi cầm lấy nó đi men hiên đất cao hẹp rẽ vào
phòng Cụ.” Dạ, thưa Bác, Bác để quên ạ!”
Cụ ngửng lên nhìn và tôi bỗng thấy mình lạc lõng quá, vô
duyên quá, tọc mạch quá. Mặt Cụ xưng lên, đầm đìa nước
mắt, hai mắt húp lại, những nét tôi chợt thấy chỉ cốt để cho
mình Cụ được biết, một cái gì hết sức bí mật, riêng tư. Cụ ngơ
ngẩn nhìn tôi, nhìn hộp thuốc lá như không hiểu tôi vào làm
gì, cái hộp kia là gì và của ai... Tôi vội quay rất nhanh ra ngoài.
Hội trường tắt đèn. Chân dung Stalin chìm trong bóng tối.
Tôi bật nấc lên.
Lúc này nỗi thương đau của Bác Hồ có lẽ mới thấm vào tôi.
Ít lâu sau bài thơ khóc Stalin đăng lên báo, tôi nhận thấy
mình đã thành kiến với Tố Hữu. Nhà thơ đã đau đớn thật.”
Thương cha, thương mẹ, thương chồng, Thương mình có một
còn thương ông thương mười.” (Thơ Tố Hữu)
* * *
Một tối họp chi bộ nghe và nhận xét các bản tự kiểm thảo
của nhau. Sau mỗi bài học cơ bản lại có một cuộc tự kiểm
thảo và cuối lớp sẽ có bản tổng kết tư tưởng, gọi ra tên hệ tư
tưởng của mỗi người. Tố Hữu xuống dự chi bộ chúng tôi tối
đó. Tôi có phần đao to búa lớn phê phán người vừa trình bày
xong bản kiểm thảo. Tố Hữu bỗng giơ tay ngăn tôi lại. Rồi từ
tốn, nhỏ nhẹ nói “Đồng chí vừa phê phán ai, đồng chí biết
không? Phê phán đồng chí của đồng chí đấy, đồng chí phải
biết điều ấy! Đồng chí của đồng chí là gì? Là hòn ngọc..., tôi
nói lại, là hòn ngọc, hòn vàng của đảng, là người mà chúng ta
phải yêu mến nâng niu...”
Tôi phát hiện một chân lý cảm động. Tôi là hòn ngọc hòn
vàng của đảng! Nhưng cùng lúc tôi ự ái vì bị “uốn nắn thái
độ.” cùng lúc nhận thấy trong con mắt Tố Hữu nhìn người
vừa bị chỉnh đốn kia một ánh trắng xỉn, lạnh lẽo, một cái gì
khinh khỉnh.
Định nghĩa đảng viên là ngọc là vàng của đảng cho nên vào
tổng kiểm thảo Tố Hữu yêu cầu học viên rất ngặt. Hễ là con
em hay liên quan với địa chủ, học viên đều phải thành khẩn
tự khai báo với đảng mọi sai lầm tội lỗi của bản thân, chẳng
hạn đồng tình, về hùa với gia đình, thậm chí cùng với gia đình
trực tiếp đàn áp, bóc lột nông dân... Thứ hai, phải vạch ra mọi
thủ đoạn đàn áp, bóc lột nông dân cùng tộí ác của bố mẹ, gia
đình, họ hàng địa chủ, cường hào gian ác. Thứ ba trên cơ sở
thành khẩn khai báo kia mà tuyên bố là căm thù bố mẹ, tỏ ra
đã dứt khoát lập trường vô sản, đoạn tuyệt với kẻ thù giai
cấp. Không đạt yêu cầu căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ
thì bản tổng kiểm thảo bị “phá sản,” học viên đó phải ngồi học
lại cho tới khi nào lập trường vô sản, lập trường nông dân
thắng, anh ta công khai tuyên bố căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt
với bố mẹ mình.
Tố Hữu làm đúng lời Bác Hồ thôi. Sắp vào tổng kết tư
tưởng, Bác Hồ đến nói chuyện - thực chất “động viên” học
viên dứt khoát với tư tưởng sai và lầm lạc, tội lỗi của cá nhân.
Như thấy làm việc cho thực dân Pháp là nhục nhưng vẫn
chưa triệt để, phải tiến lên một bước nữa là thấy tội của
mình… Bữa ấy Bác lôi cả nhục và tội của cụ Bùi Bằng Đoàn ra.
Tôi nhớ chi tiết này vì tôi đã ái ngại cho cụ thượng thư cũ.
Nhất là khi Bác Hồ nói “Xin lỗi cụ Bùi” thì cụ Bùi rất ôn tồn
đáp lại: “Không dám, xin cụ cứ nói.” Tôi có phần thiện cảm
với chữ “Không dám” mà từ khi lên ATK trên rừng bây giờ
mới lại nghe đến. Cũng thương cụ Bùi chỉ được gọi là Cụ!
Lúc ấy tôi chưa biết Mao bày mẹo chỉnh huấn bắt khai tội
cốt để hạ nhục bề dưới để dễ thu phục sai khiến - tao bắt mày
khai cái thối tha nhất của mày ra mà mày nghe tao là mày
hàng tao, tao nắm được ruột gan mày thì mày còn hòng thóat
đi đâu.
Ở chi bộ chúng tôi, Nguyễn Tư Nghiêm là học viên duy
nhất rơi vào cảnh gay go phải làm hai bước nhận nhục và có
tội. Mẹ anh năm ấy đã già, có hơn hai mẫu ruộng cho cấy tô,
một mình nuôi người em của Nghiêm bị điên. Nguyễn Tư
Nghiêm nhất định không khai “tội ác” của mẹ. Chi bộ thuyết
phục, răn đe, anh vẫn khăng khăng nói không thể căm thù mẹ,
không thể coi mẹ là kẻ thù giai cấp, là có tội ác, không thể
đoạn tuyệt mẹ mà trái lại anh biết ơn mẹ đã nuôi nấng anh
thành người, cho anh được học mỹ thuật.
Tóm lại, đảng coi anh là ngọc là vàng để anh nghe đảng
nhưng anh lại coi mẹ anh, kẻ thù giai cấp, hơn cả ngọc cả
vàng. Và Nghiêm đã đơn thương độc mã nhỏ nhẹ, ấp úng
chặn đứng một mầm văn hóa ác bắt đầu ló mòi mà người ta
toan vun trồng nhân giống trên đất nước.
Cuối lớp học, xong phần tổng kết tư tưởng từng người, học
ủy chọn đưa ra toàn thể hội trường ba báo cáo điển hình.
Một của Thế Lữ. Anh đã phạm sai lầm tham gia Việt Nam
Quốc Dân Đảng, Tự Lực Văn Đoàn, lại làm thơ kêu gọi nhân
dân ta, nhất là thanh niên, đi vào con đường thoát ly chính trị,
lờ đi tiếng kêu cứu của đất nước nô lệ tủi nhục. Rồi đời sống
sa đọa, đĩ điếm, thuốc phiện...
Một của Tô Ngọc Vân. Anh là tiêu biểu rõ nét nhất của tư
tưởng văn nghệ thoát ly chính trị mà tiêu biểu nhất là cuộc
tranh luận kéo dài của anh với Trường Chinh năm 1948 ở
trên báo Sự Thật về “nghệ thuật là tuyên truyền hay không là
tuyên truyền?” Anh thẳng cánh bác bỏ nghệ thuật phải tuyên
truyền.
Và một của Th. Lên tự nhận mắc chứng hủ hoá trai gái gần
như bệnh lý mà có lẽ do, anh công khai thú nhận, “cái của tôi
nó to quá!” Truy nguồn gốc tư tưởng đến thế, nhân tiện phô
diễn tính dục bằng lời - verbal exhibitionism thay cho hàng
thật. Một dạo dài, tôi sinh hoạt chi bộ ghép với vợ chồng Th.
Đầu những năm 90, giỗ 49 ngày Trịnh Kính thổi clarinet ở
cạnh nhà tôi, Song Kim, dì họ của anh đến. Chị buồn rầu nói:
- Báo cáo điển hình của anh Thế Lữ ở cái lớp ấy tôi vẫn
còn giữ... Xấu hổ anh ạ...
- Chính bọn chúng tôi mới xấu hổ, - tôi khẽ nói. Đã xúm lại
nghe... Nhưng có lẽ xấu hổ hơn cả là người đã đặt ra cái trò
cho nhòm hội đồng vào đời tư người khác qua lỗ khoá.
Tôi đã giữ lại không nói tiếp: Chẳng lẽ hễ nhân danh cách
mạng là có quyền đánh trống ghi tên cho đến nhòm lỗ khoá
vào đời người khác hay sao chị ơi.
Thời đánh Nhân Văn, Song Kim đã từng phải che chắn cho
Thế Lữ. Người ta đòi anh viết kiểm thảo cái tội không nhận rõ
sai lầm của bọn phản động Nhân Văn. Nguyễn Khải được
phân công đến động viên Thế Lữ viết. Chả biết thật hay giả,
Thế Lữ liền nhờ Khải viết hộ bản tự kiểm điểm lệch lạc của
mình. Kể lại cho tôi chuyện này, Khải còn đỏ mặt ngượng.
La m nhu c va sơ la ye u ca u sa u k n cu a “tự kiểm thảo.”
Nhiều người đã tự sát. Bảo là vì nhục cả thì không chắc. Có
thể là một cách phản kháng chăng? Người đầu tiên tự sát
trong chỉnh huấn là Thân Mỡ, nguời đảng viên do Kỳ Vân kết
nạp đầu tiên ở Đình Bảng, lúc học ở trường Mác - Lê Bắc Kinh
rồi treo cổ chết khi tổng kết tư tưởng
Ở lớp chỉnh huấn Lưu Động, Chính Yên báo Cứu Quốc dự,
có Thướng, biên tập viên cùng báo với hai anh. Thướng treo
cổ bên ngòi Thia, sông Đáy. Hai anh đã phải lặn lội tìm xác kẻ
“phản bội,” lời của bí thư học ủy Nguyễn Chương. Học viên
phải họp mít tinh ở hội trường rầm rầm hô đả đảo tội ác của
tên Thướng mưu phá hoại chỉnh huấn, một phương thức
quan trọng của xây dựng đảng. Chính Yên bảo tôi là trước đó
Thướng ngồi trong hội trường một mình rất lâu. Bước ra thấy
Chính Yên, Thướng quay đầu lại sau chửi: - Mẹ chúng nó cao
cao tại thượng. Trên cao chỉ có ảnh Mác, Ăng - ghen, Lê-nin,
Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh. Chính Yên nói anh
không nghĩ Thướng chửi mấy cụ đó.
Động cơ nào khíến một số anh em tự thủ tiêu. Nhục rồi tự
xoá bỏ? Hay mượn diệt bản thân mà hy vọng diệt chính cái kẻ
đã đưa mình tới nông nỗi tuyệt vọng này?
Tự sát biết đâu chẳng phải là muốn lẩn trốn một cách sống
kinh hoàng? Đời thuở nào ngồi trước chi bộ lại lôi việc bố đi
nhà thổ, mẹ ngủ với đày tớ ra trình báo?
À, lại còn tế nhị cho phép là nếu việc xấu xa quá thì sẽ
được báo cáo riêng với học ủy. Tại lớp học tôi theo có người
đau đớn khai ra việc mình ngủ cả với mẹ vợ và em gái vợ, có
khi một đêm riêng rẽ với cả ba người. Khai rõ đủ thủ đoạn dụ
dỗ, lừa bịp và cách tiến hành “tội ác” để lôi được tận gốc rễ
của tư tưởng địa chủ nó ích kỷ, đểu giả, tàn bạo đến thế nào.
Chăm chú ghi từng câu hỏi của tập thể để trình bày cụ thể
động cơ, địa điểm, thủ đoạn phạm tội. Có đồng chí khai mắc
sai lầm thủ dâm. Năm chục tuổi mà còn mắc cái đó thì tư
tưởng chiếm hữu và hưởng thụ của địa chủ ở đồng chí lớn
quá thật. Nào đồng chí nói cho biết khi phạm tội đó đồng chí
nghĩ chiếm hữu ai? - “Báo cáo (người trong chi bộ tôi và
Nghiêm vừa tự thú bỗng nghẹn ngào) … báo cáo, tôi… Báo
cáo…, cả chi bộ lắng nghe. Báo cáo tôi nghĩ đến cô con gái nhà
chủ ở địa phương. “Thành phần gia đình?” “Có lẽ phú nông...”
“Đấy, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, tư tưởng bóc lột gặp nhau
đấy.”
Cứ thế nghiêm chỉnh xây dựng tư tưởng vô sản cho nhau.
Đấu tranh tư tưởng là phải truy lùng triệt để như thế!
Nhưng có những người khóc vờ cho qua cầu. Thí dụ
Dương Bích Liên. Anh bảo tớ có cách. Tớ nghĩ đến thuở bé tớ
lấy lửa đốt các tổ kiến cho cháy xèo xèo thế rồi tớ chảy nước
mắt thật. Sau này đi cải cách Liên luôn thủ một hộp sữa bên
mình, đêm mút trộm. Tự bào chữa: cái này mình có mời thì
nông dân cũng lắc.
Xin trở lại chuyện Nguyễn Tư Nghiêm.
Thương anh, kẻ bị Tố Hữu “uốn nắn thái độ” không yêu
thương đồng chí là tôi đã xui bậy anh khai bừa đi là căm thù
cho xong chuyện. Bảo anh là nói vâng, tôi căm thù trống
không như kiểu Galilée nhận quả đất đứng nhưng miệng lẩm
bẩm cho một mình mình nghe là nó vẫn quay ấy!
Nhưng Nghiêm cứ đau khổ lí nhí bảo tôi: - Không..., không
căm thù mẹ được.
Nghiêm cũng không căm thù được cả các địa chủ khác.
Một xẩm tối, chờ lên hội trường nghe giải đáp, Nghiêm
bảo tôi: - Tớ biết thế nhưng tớ không theo nổi. Tớ đọc Marx -
Engels thấy nói Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt
triệt để nhất với chế độ tư hữu; như thế tất nhiên nó phải
đoạn tuyệt triệt để nhất với các tư tưởng truyền thống “Table
rase” cơ mà, xóa sạch… Tớ biết thế nhưng tớ không theo thế
được…
Lúc ấy cố nhiên Nghiêm chưa nghe Cụ Hồ nói đại ý giữa
nhà to là nước với nhà nhỏ là gia đình riêng thì cái to là nặng,
cái nhỏ là nhẹ, vậy nên người cách mạng chọn gia đình to.
Nhưng có nghe thì Nghiêm cũng không theo. Marx còn chả
làm gì nổi được Nghiêm mà.
… Lần tham gia cải cảch ruộng đất ở Đức Lân, gần kè Úc
Sơn, Thái Nguyên, sau một cuộc phát động quần chúng đấu tố
địa chủ, Nghiêm mất tích. Tiêu tan đi như một cái bóng. Đội
đã nghĩ tới phản động thủ tiêu. Ai hay quá kinh hãi về sự độc
ác của con người với con người, anh bỏ trốn đội. Lủi ra ẩn ở
giữa đồng lúa đang cữ trổ đòng. Bạch Mao nữ trốn địa chủ
còn có rừng sâu, Nghiêm trốn đội cải cách chỉ còn có cánh
đồng và những đòng lúa non cho anh bứt nhá thay cơm nhiều
ngày. Phát hiện ra anh, người ta chỉ có thể kết luận là anh
điên.
Và Nghiêm đã vào nhà thương điên Bạch Mai. Chung
phòng với một anh lính điên. Kim Lân lúc đó là chi ủy viên
phải đến thăm Nghiêm (“chả hiểu sao lại cho mình chui vào
cơ quan lãnh đạo như vậy chứ?,” - Kim Lân lè lưỡi bảo tôi)
Cậu lính khen Nghiêm tốt lắm nhưng hễ lên cơn anh ta lại cứ
nhè đầu Nghiêm mà nện. Tài, - Kim Lân nói, đau thế, ngày hai
ba trận đòn điên thế mà nhất định không chịu ra nhá. Sau
nhiều lần vào, tớ cứ dỗ cu cậu. Nào về với anh em đi,
Nghiêm... Về..., về vẽ với anh em cho vui nhỉ...
Về một thời gian được đặt hàng minh họa Truyện Kiều.
Trường Chinh cho xổ toẹt. Phê rằng truyện Kiều là của Trung
Quốc mà lại vẽ ăn mặc kiểu Việt Nam? Thật ra ông ấy không
xài được những nét vẻ run rẩy mà mọi người kinh hãi lên vì
đẹp và gọi là phong cách “thời kỳ điên.”
Sau đó, Trường Chinh muốn an ủi Nghiêm, ba lần mời
Nghiêm đến gặp. Nghiêm từ chối. Rúc vào đồng im lặng. Nay
những bức vẽ Kiều được săn lùng ngang đồ sứ Minh - Thanh...
Bây giờ, thế kỷ 21,Nghiêm vẫn hoàn toàn rúc vào tranh và
im lặng. Tây Tàu đến tìm gặp người đàn bà sống chung với
anh nói anh đi vẽ xa. Bao giờ về? Không biết... Mà có khi chết
giữa đường, ông ấy dặn trước như thế.
Khoảng 2009, 2010, một tối ở nhà Trần Lưu Hậu tôi gọi
cho Nghiêm. Vợ anh, người đàn bà hay từ chối khách nói ông
ấy ốm. Tôi nói xin bà nói giúp với ông ấy tôi là thế này. Ba
phút sau Nghiêm ra.
“Ốm thật... Ừ, đến chơi nhé... Nhớ đến nha. Có tránh nhưng
tránh ai thôi... Vẫn thoáng cái giọng Nghệ từ tốn, thấp trầm.
Tôi hài lòng. Có thế chứ. Rủ tôi bỏ cộng sản từ rất sớm cơ mà.
Tết Quý Dậu, 1957. Giữa thoái trào dữ dội của phong trào
cộng sản trên toàn thế giới...81

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Chương 3- ĐÈN CÙ ( Trần Đĩnh)

THỬ LỬA
( Đầu đề do tôi mạo muội đặt)
Tháng 10 - 1949, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
ra đời. Hơn hai tháng sau Cụ Hồ bí mật len qua vùng
địch ở Phục Hòa, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu.
Trần Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên
dịch tiếng Trung Quốc theo cụ. Lý Ban vốn tỉnh ủy viên Quảng
Đông đi tiền trạm.
Lúc ấy dưới trướng Lý Ban nắm Hoa kiều vụ có Tắc Vầy,
Trương Đức Duy, cán sự vô danh nhưng sau này làm đại sứ
Trung Quốc tại Việt Nam, lời lời vào tai Hà Nội đều nặng cân
lạng vô cùng. Người đứng trên bè nứa bao giờ nom vẫn kém
uy hơn người đứng trên tàu lớn.
Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang
vô thừa nhận mà lại sắp vớ được họ hàng toàn oách ra dáng
hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí
mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế
giới.
Chừng một tháng sau, Cụ về. An toàn khu mừng mở tom -
bô - la, xổ số. Tôi trúng một bàn chải răng. Dòng chữ Three
Stars - Made in Shanghai (Làm tại Thượng Hải) óng ánh kim
nhũ như soi thấu suốt lên nữa cái cán mầu san hô mà tôi cứ
thấy như hành lang thu nhỏ dẫn vào một xứ sở thần tiên vậy.
Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi chuyện. Khoa đã
được dặn cấm không hé răng. Cuối cùng trong hàng thịt chó
trên đường sang Bộ tổng tư lệnh, anh chỉ lộ ra một chuyện.
- Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch
nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng chẳng cần tao... Ông Cụ sang
kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Họ
không hỉểu ta. Họp trong này, bên ngoài tao nhớ là có cái bể
bơi nước nóng bốc khói, (lúc ấy ai biết Mao có cái thú giầm
mình trong bể bơi). Tao nhìn mấy ông Mao, Lưu, Chu thấy
trợn bỏ mẹ. Nhất là Mao trắng hồng, cao lớn, trán nhẵn bóng
gần như im lặng suốt buổi, hai bàn tay khoanh lại đút vào hai
ống tay áo bông. Ông Cụ nhà mình nói... Thỉnh thoảng Mao lại
dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu
là tán thành hay phản đối. Ông Cụ kiểm thảo xong, Lưu Thiếu
Kỳ nhận xét, góp ý kiến. Thôi, đủ rồi, thôi...
- Thôi thế nào được, - hai chúng tôi cứ hai bên trái phải
thi nhau huých đẩy Khoa. Chỉ khai một chuyện nữa thôi thì
tha, - chúng tôi nói.
- Nói rồi chúng mày lại cứ Khoa Tếu lộ cho chúng mày...
Thôi, nói cái này thôi… Khi đòan đến Bằng Tường, Tẫu bốc
phắt luôn mỗi mình ông Bác lên xe đưa đi trước. Mất tướng,
bọn tao đi sau lo quá…
- Làm cứ như thổ phỉ thế vậy ư? Không coi quân tướng
người ta ra gì, không thèm đếm xỉa đến đám hộ tống bảo vệ
Cụ, coi như muỗi mắt à - chúng tôi cáu.
Gần năm sau thì biết Chu Đức, Liêu Thừa Chí, Nhiếp Vinh
Trăn đã xuống tận Bằng Tường “bắt cóc” cụ Hồ đi… Nghe mấy
cái tên huyền thoại, chẳng hạn Chu Đức, sướng quá.
Chúng tôi cứ dai nhăng nhẳng ép Khoa phải nói gặp Mao đã làm những gì. Khoa xì tiếp ra một bí mật nữa: sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét…
- Sao lại kiểm thảo?
- Là một chi bộ của Quốc tế mà, không nhớ ư? Phải xin Quốc tế cho nhận xét chứ.
- Thôi được, nhận xét sao? - Thép Mới và tôi dồn.
Khoa nghiêm mặt, hơi sửng: - Tao chỉ nói một cái nữa thôi,nếu không tao báo cáo xừ Lê Văn Lương là húng mày bắt tao vi phạm kỷ luật bí mật của Bác.
Chúng tôi đành gật đầu. Khoa nói, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét chính sách tiêu thổ kháng chiến toàn bàn của Việt Nam là không cần thiết và lãng phí. Vì những nơi có tính chiến lược thì dù là vùng hoang vắng, địch cũng xây cất để đồn trú còn nơi không có tính chiến lược thì nhà cửa nguyên vẹn địch cũng không ở...
Tôi hơi ức. Bác báo cáo coi như kiểm điểm, thôi được, nhưng sao không phải Mao nhận xét Bác mà lại Lưu? Rồi Trì Cửu Chiến của Mao viết ca ngợi tiêu thổ mà tại sao Lưu lại nhận xét ta như thế. Tôi bảo Thép Mới, Thép Mới ờ hờ một lúc nói:
- Họ cũng phải nói thế chứ chả lẽ cứ học họ là giỏi như họ rồi bình đẳng với họ được sao? Họ muốn vạch một démarcation, tuyến phân rõ thày với trò ra mà mày. Họ muốn nói là ta học họ nhưng tự học cho nên đã bị giáo điều. Muốn gì họ cũng phải nắm được đằng chuôi chứ. Mèo còn không dạy hổ leo cây cơ mà.
- Thày cái gì, chuôi cái gì? - tôi phản ứng.
- Không thì sao lại sang ngồi kiểm điểm với họ? Có kỉểm điểm với dân, với tao, với mày không? Nhưng vẫn hơn xưa chứ mày. Quang Trung đánh bại nó mà phải xin nó phong cho An Nam Quốc Vương. Nay bình đẳng quá rồi chứ! Ta Dân Chủ Cộng Hoà, họ Cộng Hoà Nhân Dân, khác nhau đấy.
Khoa cho biết sau đó Mao đi Liên Xô ký kết hiệp ước với Liên Xô đồng thời nhân dịp nói trước với Stalin việc Hồ Chí Minh muốn được gặp.Sau này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô rồi. Vì sao không biết nhưng theo tôi Khoa nói đúng vì về nước mới mươi ngày anh đã kể với
chúng tôi và vì không ai có thể bịa ra chi tiết Mao “ngồi đút tay vào ống tay áo bông mà dặng hắng ừ hừ hử hữ nghe kinh bỏ con bà” sống động như thế được. Sau này kể cho tôi viết hồi ký,Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngòai, buồng Huỳnh ngồi trông ra một bể bơi nước nóng có bốc khói. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đó Mao phải nghe Cụ Hồ trình bày trước.
Bây giờ, sau khi đã nếm đủ thứ trò quỷ của cộng sản với nhau, mới hiểu Mao đi riêng là để vạch ranh giới. Hai nước lớn chúng tôi bàn chuyện chúng tôi với nhau là chính đã, sau đó nhân thể tôi sẽ thăm dò lo lót cho chuyện anh xin công nhận cho anh vào phe. Chung quy cốt phân rõ tôi trên anh dưới, anh nhờ tôi giúp, kết quả sao chờ tôi gặp Stalin đã! Còn Stalin biết Hồ Chí Minh đã ở Bắc Kinh nhưng nhận hay tiếp tục từ chối Hồ Chí Minh thì Stalin phải bàn với Mao. Phải chăng Mao chính là nhân tố quyết định làm cho Stalin thay
đổi thái độ phủ nhận Hồ Chí Minh?
Sau đó nghe truyền đạt Stalin đã phân công Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam, tôi cụt hứng dữ.” Phụ trách” thì phải là Liên Xô chứ sao lại Trung Quốc? Tôi khó chịu nhưng đây là chuyện ở trên tầng chót vót đầy linh thiêng thần bí của Đệ Tam Quốc Tế cho nên không vui rồi cũng cho qua. Lúc ấy chúng tôi sao hiểu nổi đây là món quà Stalin hối lộ Mao. Vả chăng bỏ thì thương mà vương thì chưa hết ghét, nên ông mượn bàn tay Mao nắm giúp!
Nhưng hệ lụy đã nằm lại sâu bền trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: ví trí đàn em, bên dưới, yên phận biết ơn đã thành nền móng cho một tư thế ứng xử với Trung Quốc.Xuân Trường cho biết Bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Tự ái dân tộc thế là xẹp. Vai vế, tôn ti này Bác Hồ đặt ra.Yêu Bác Hồ chả lẽ lại đi tự ái xằng với Anh Hai. Nên biết chính Bác tự nguyện nhận mình chỉ nêu ra được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục, (điều lệ thêm câu “lấy tư tuởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam,” điện đảng gửi Ðảng Cộng sản Trung Quốc viết Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập Ðảng Cộng Sản
Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Ðông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Ðông v. v. Từ1951, tuần nào báo Nhân Dân cũng có vài mẩu của CB (tức Cụ Hồ) phổ biến kinh nghiệm mọi mặt của Trung Quốc… dần dà đảng viên cộng sản Việt Nam lại tìm ra chỗ để tự hào: được làm em của hai nước vĩ đại, Liên Xô anh cả, Trung Quốc anh hai. Cũng ngầm hiểu mình là anh ba trong cả phe. Có cha nào dám vũ trang đánh đế quốc như hai ông anh và Việt Nam đâu? Bảo mạng, không dám hy sinh mà. Toàn do Nga giải phóng cho!
Một năm sau, mở đại hội 2, Hồ Chủ Tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam.” Không thích chui lủi, chúng tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM…
Việc đảng ra công khai cũng gây một số thắc mắc. Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động Việt Nam yếu quá thì được đả thông ngay: - Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy tên này, như Mông Cổ lấy tên là Đảng Nhân Dân Cách Mạng. Thế ra lúc Cộng sản Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả… Thấm đẫm tinh thần quốc tế nên nghe đả thông như thế lại sung sướng được lãnh tụ tối cao quan
tâm đến cho từng li từng tí. Không biết nếu quan tâm thì lãnh tụ tối cao đã ôm lấy chứ đâu để Trung Quốc phụ trách. (Nói thêm về đả thông, tức đánh thông tư tưởng cho khỏi thắc mắc, dao động, bế tắc, chữ đầu miệng của cán bộ đảng viên Trung cộng mới ồ ạt nhập vào từ hội Việt cộng.) Bây giờ mới thấy Ông Cụ nhiều phần mượn Stalin ra để đỡ phải giải thích dài dòng.
Chúng tôi còn hậm hực quanh chữ Nhân Dân, tên mới của báo đảng. Sao không giữ Sự Thật? như Pravda của Liên Xô, “Sự Thật mới cộng sản, Nhân Dân là kém nước!” Không nhớ ai đó nói: - Nay Liên Xô giao Việt Nam cho Trung Quốc phụ trách thì Việt Nam phải tỏ ra là vui vẻ chấp nhận chứ. Lấy tên báo đảng Trung Quốc là để nói tôi sẵn sàng đi với đồng chí đây. Chả lẽ ăn không của Trung Quốc à?
Cuối cùng Đại sứ La Quý Ba đã trình quốc thư mà mãi vẫn không thấy đại sứ Liên Xô đến, chúng tôi hơi lạ
Thép Mới bạo mồm gỉải thích: - Thông cảm mày, cha Liên Xô ở châu Âu sống sướng quen rồi, sang ta ở rừng hắn cũng ngại…
Lúc ấy chưa nhận hết hàm nghĩa của từ phụ trách. Đúng,thế nào là phụ trách? Là phải ốp sát, kèm chặt ở bên! Đồng chí La có tư cách song trùng: vừa đại sứ cách trở vừa thường xuyên đụng đầu bàn bạc ở cương vị “phụ trách.”Có một vị đại biểu của Quốc tế được chúng tôi cảm thấy gần gũi hơn. Đó là Léo Figuère, ủy viên trung ương Đảng cộng sản Pháp. Là cái bóng trung thành của Liên Xô nên cộng sản Pháp cũng đã từng lờ Việt Nam. Nay Stalin công nhận Việt Nam, cộng sản Pháp bèn cử Léo Figuère sang tìm hiểu ngọn
nguồn - có là cộng sản thật không hay giả mạo? - và đặt trở lại mối quan hệ đồng chí.
Yêu cộng sản Pháp, Cụ Hồ gửi Léo mang một sợi dây chuyền vàng về tặng con gái tổng bí thư Maurice Thorez. Ai ngờ, dây chuyền bỗng không cánh mà bay. Tin tối mật nhưng cũng đã lọt tai mấy đứa ở báo đảng sống kề bên tổng bí thư.Lê Phát, đại đội trưởng chỉ huy số lính đi theo bảo vệ Cụ qua vùng Pháp đóng để lên biên giới sang Trung Quốc cho tôi xem những bức ảnh anh chụp Cụ trong chuyến anh có vinh dự hộ tống ấy. Đặc biệt hai ba tấm hình Cụ ngủ trưa đã làm tôi se lòng. Cụ nằm ngửa, chân co chân duỗi nét mặt mệt mỏi.
Không, có cả lo lắng, nom bỗng như là một ai đó khác, trần trụi, cô độc. Tôi sao biết nổi tâm trạng hết sức căng thẳng của Cụ lúc đó. Nói sao cho các ông anh đa nghi Tào Tháo tin mình là cộng sản thật? Giải thích sao cho trôi đoạn tình báo Mỹ vào căn cứ địa đầu não? Rồi vì sao lại đem đảng ra mà giải tán?...
Tập an - bom này sau Lê Phát tặng Bảo Tàng Cách Mạng.
Hộ tống Bác len qua vùng địch sang đất Trung Quốc, cuối đời Lê Phát một mình trốn sang Thụy Sĩ và chết ở trời Tây.Nhân chuyện an - bom, tôi mượn một tấm ảnh để nói lên thực tại an toàn khu trước khi Cụ Hồ sang Trung Quốc cầu viện.
Tấm ảnh này tôi xin một cô bạn để cho gia đình Lê Đạt nhân giỗ đầu của anh. Cầm nó xem, tôi cứ lạ sao Đạt, trẻ nhất, lại là người mở đầu bức ảnh ở bên trái. Và ngay cạnh anh là Cụ Hồ, hai thày trò duy nhất ngồi xổm bên nhau, cạnh năm sáu thư ký của Trường Chinh đứng sau Tổng bí thư tư lự. Bức ảnh đập ngay vào mắt người xem bởi vẻ hoang vu, tiều tụy:một lán nứa nhỏ ba vách nứa tuềnh tòang không nội thất, sau đó một vạt cây cối bị đốn trơ gốc và miếng đất mới khai phá chưa kịp xây cất nhà lán. Nhưng nổi lên hơn cả là hình ảnh Cụ Hồ và Lê Đạt. Ai xui mà chỉ có hai người ngồi xổm? Cụ Hồ -chắc đến chỗ Trường Chinh có việc - hốc hác đăm chiêu, Lê Đạt mặt còn hơi sữa nhưng nom thẫn thờ. Tôi không thể không nghĩ đến hai cha con một nông dân già bán gà ế chợ chiều ủ ê bên nhau mà đường về thì xa và nhà thì nhẵn gạo…
Đặc biệt không một chút ranh giới phân chia đẳng cấp giữa người và người. Không một bóng dáng quyền lực. Tất cả là một khung cảnh buồn, hiu hắt, suy tàn… Mấy thành viên cuối cùng của một bộ tộc sống trên một dẻo rừng biệt lập được National Geography chụp được. Bức ảnh với hết không khí hiện thực ủ ê của nó cho thấy Cụ Hồ không thể không băng qua vùng biên giới bị quân Pháp chiếm đóng để tìm Mao Trạch ông.
* * *
Để liền một dải với Trung Quốc, với phe, nói khác đi, để làm đươc tiền đồn của phe, đe thóat cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” (chữ của Võ Nguyên Giáp) ta mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng.
Tháng 8 - 1950 tôi lên Cao Bằng. Một nhóm lên đường với nhau từ Gốc Thông cửa ngõ Bộ Tổng: Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh và tôi. Bộ đội sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội. Ở tiểu đoàn
251 của Nguyễn Hữu An mà tôi xuống đó, có Lìu dính trảng, Lưu dinh trưởng, da mịn như da đàn bà lấm tấm tàn nhang màu mã não. Có hôm Nguyễn Hữu An buột mồm bảo tôi tên gì mà nghe lại như Húng Lìu dính chảo thế nhỉ? Thường đùa bảo cố vấn nói một hai ba bốn tiếng Việt để ôm bụng cười vì cố vấn cứ một hai ma mốn… Cái nọc dân tộc kỵ nhau vẫn cứ ló ra. Giữ kín đáo nhưng thỉnh thoảng đồng chí cố vấn Húng Lìu dính chảo vẫn để lộ cho biết quân Tưởng tác chiến rất giỏi. Có ý so với nó, quân Pháp kém xa.
Tôi ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá, đâm lê.” chú ý ngoáy cổ tay, vặn thấ này, xốc lên,” anh phiên dịch nói to như gắt. Đoàn báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị xã Cao Bằng.Tôi còn bức ảnh chụp bữa ấy, trong đó tôi ngả người vào Nam Cao ngồi bậc cuối cầu thang nhà sàn. Bên kia thang là Dương Bích Liên.
Đưa ma Thâm Tâm... Một xóm nhỏ, một suối nhỏ nhảy chồm chồm trên nền đá dựng đứng, đổ nước ầm ầm ngay ở đầu nhà như có tiếng sóng đưa Thâm Tâm qua sông, tôi nghĩ khi len qua hẻm đá, sau cỗ áo...
Sau đó cả lũ ôm bè nứa lần lượt qua một cái đầm rộng ven vách đá, đẹp như tranh thủy mặc.
Tôi và Nguyễn Địch Dũng đến trung đòan 174 của Chu Huy Mân và Đặng Văn Việt.
Tuần sau đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế họach ban đầu mà Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu sa bàn với đám nhà báo, văn nghệ sĩ. Cố vấn Trung Quốc là đồng chí Trần Canh nói đánh vào cổ con rắn thì nó sẽ oằn người lại và ta có cơ diệt viện…
Xin trở lại chuyện chiến dịch lớn đầu tiên nhưng ở đây tôi chỉ kể lại vài ấn tượng in sâu trong tôi, kẻ lần đầu thử lửa lớn.Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn 251 chủ công Nguyễn Hữu An của trung đoàn 174. Tiến, người Tày là chính tri viên.
Xẩm tối hôm nổ súng, Nguyễn Đắc nhiếp ảnh, Dương Bích Hồng, sĩ quan địch vận, em trai Dương Bích Liên và tôi leo vào một hang đá trên đỉnh núi (nghe nói ban ngày Cụ Hồ đã vào đây quan sát trận địa) nhìn khắp một vùng núi non vắng lặng. Bên dưới kia một dẻo thung lũng hẹp rất êm ả, hết sức êm ả (thấy cả vài bụi cây còm cõi vàng vọt mà tôi chợt có ý muốn đến đó cùng xây nhà bên suối) chảy tư phải sang trái,
đa u be n pha i đa ch m va o bóng chiều xẫm laị. Trước mắ một hòn núi đá ngỏng lên bơ vơ ở giữa lũng. Khỏi nó, qua trái, lũng bắt đầu nở ra và xa xa dềnh lên âm u một núi mặt bàn cao, dài, phẳng, ma quái: Đông Khê đồn. Tiểu đoàn chủ công của Nguyễn Hữu An, D5, ma tôi theo đã nửa tháng, đêm nay sẽ húc vào đó.
Trời bỗng tối đi, tất cả như thụt lún xuống. Từ bìa rừng bên phải, mấy con cá lưng đỏ đòng đọc quẫy đuôi bơi ra ở giữa lòng lũng. Lại thấy đó là những bắp chuối rủ nhau dung dăng là là mặt đất và chúng đến đâu, đấy lìền ưng ửng hoa đào. Nhưng chúng đã tan vào đâu mất rất nhanh. Ma ho n nu i
co i cu t trươ c ma t, đo n tie n tie u Cạm Phầy, mô hình phóng to
của cái cha y thơ i đa cu th bo ng gia y le n, rung rinh. A, hòn núi cổ quái kia là đồn Cạm Phầy và đàn cá, đàn bắp chuối này là đạn 75 li đến nã vào nó, khai hỏa cho toàn trận đánh. Cạm Phầy chợt như bị một bùi nhùi rơm khổng lồ quất vào, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía.
Nhưng hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn!
Trưa đến quân y tiền phương của trung đòan. Nghe báo cáo thành tích La Văn Cầu chặt cụt tay khi lên đánh bộc phá bị đạn đui - xết (đạn12ly7, âm tiếng Pháp - BT). Đưa tin luôn.
Đêm hôm sau tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đòan trưởng Thành. Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo. Cho bắn bao nhiêu viên 75 và còn hô bắn phát thứ mấy thứ mấy. Thành bảo tôi cố vấn Trung Quốc nói mỗi viên đạn pháo giá hai lạng vàng. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy mặt trận biên giới giục lính 251“anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể để đến sáng nữa...”
Sáng tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn. Tôi đeo ba lô lên vai toan dời đó lên đồn thì chợt hai phát đại bác trong đồn bắn ra rít lên gần như ở ngay bên mang tai. Tôi tụt vội xuống cái hốc đất ở trước khẩu pháo tôi vẫn núp cả đêm qua. Lầm chết người! Cái hốc ở sau khẩu pháo. Cái hốc đằng trước nó là mép núi buông thẳng đứng xuống con suối ở dưới đó ba chục mét. Tôi gọi to “cứu! Kéo tôi lên với!” Sau khi được kéo lên, tôi rời trận địa 75 li của Thành lên ngay đồn. Vừa tới khúc quành lượn rất đẹp lên đồn - con đường rải nhựa nhẵn thín - tôi phải quay về: bộ đội cấm 
Pháp có thể nhảy dù xuống chiếm lại Đông Khê như tháng 5 trước đó.
Tối lên đồn. Tan hoang. Lửa khói. Một lính da đen cụt chân thấy tôi, giương hai con mắt trắng rã vì sợ, lê đít giật lùi tránh. Tôi vội phối hợp với anh ta, rẽ ngay ngả khác. Không muốn mình làm anh ta sợ thêm. Đến một góc đồn. Có lẽ là cái mạn bắc mà đêm qua chính ủy mặt trận Lê Liêm cứ suốt đêm điện thoại vỗ về, thúc giục “a lô D 3, a lô D 3, cố diệt ổ đui - xết mạn bắc đồn, a lô D 3, a lô D 3, các đồng chí cố lên...” Dốc
dựng đứng. Xung quanh tối om và mây mù bồng bềnh. Một tấm vải bạt căng lên như một cánh buồm phồng gió giữa biển và góc đồn vắng tanh thì như mũi một con tàu trôi trên sương mù. Cạnh cánh buồm, một đống lửa khá đượm và một lính Pháp nằm bên. Một mình. Mắt nhắm nghiền. Miệng thầm thì
không dứt gọi Maman, Mẹ..., Maman...
Điểm nhịp cho tiếng nhẩm ôn câu đầu đời, cánh buồm ưỡn cong lên thúc trống. Phần phật... Thình thình... Maman... Phần
phật... Thình thình.. Maman...
Trong mênh mang mờ mịt, cuộc gọi đáp giữa anh lính Pháp chạc tuổi tôi, hai chục tròn xoe và tiếng sóng gió một chuyến hồi hương ảo khiến tôi không thể rời chân. Càng không dám đến đặt bàn tay giả mẹ lên trán người sắp chết. Sợ phá vị trí thiêng liêng dành riêng cho người mẹ, sợ phá vỡ giấc mơ cuối cùng có lẽ là đẹp nhất của anh lính. Tiếng trống cúng tế hộ tống cuộc lên đường “thình thình,phần phật” đầy ắp không gian, đưa hai âm maman uy nghi thiên di.
Mấy hôm sau chạy trên đoạn Khau Luông, Nà Kéo, Cốc Xá đường số 4, nơi quân lính ta và quân Charton, Lepage quần thảo giáp lá cà, tôi phải dốc lên mặt lọ Coty nước hoa chiến lợi phẩm nhặt trong hầm viên đại uý chỉ huy đồn Đông Khê nó nằm bên một quả bưởi đã bóc hết cùi chưa tẽ múi, quả bưởi cứ khiến tôi nghĩ đến bóng một người đàn bà trong căn hầm cố thủ hẹp vanh đầy gạch vữa này. Xác lính Pháp nằm
dài suốt hai vệ đường bốc mùi thối rữa. Cỏ lau mầu cốm non rạp xuống làm thảm đỡ mịn nhẵn đến không thể ngờ. Trên đó, trên tấm thảm ngỡ được là ủi đặc biệt công phu đó, những lồng ngực trống rỗng như đắp bằng bùn trộn trấu có những búi ruồi say sưa đánh vòng vo ve tíu tít ở bên trong. Một trái nghịch ám ảnh mãi tôi: cái khung bên ngòai xù xì ghê rợn sao lại dung được một vận động hớn hở, trơn mượt thế kia? Có phải chỗ miệng khung mở ra cho thấy không gian bên trong nửa sáng nửa tối kia chính là cái vùng người ta vẫn quàng
thắt lưng vào? Có những lần cởi nó ra để rồi sau đó nhớ mãi người đàn bà lặng lẽ chờ (sau này tôi ngạc nhiên bảo Nguyễn Tư Nghiêm sao lúc ấy lại nghĩ lạ như thế? Nghiêm nói: - Trước cái mệnh sắp thành hư vô, cậu nghĩ tới cái hành vi tạo nên sự sống.) Ngước mắt lên những lưng dốc ở trước mặt:mặt đường đang váng lên một chất ngũ sắc óng ánh mỡ. Ôi, biến hóa của vật chất và phần còn lại của một đời người! Tôi bịt mũi cắm đầu chạy. Chợt nghĩ tới những bà mẹ của các người lính chết này. Nếu ở đây lúc này, chắc các mẹ sẽ sờ lần
tìm kiếm chi li từng dấu vết các mẹ rất thông thuộc trên người những đứa con... Và tôi không chạy nữa. Tự nhiên thấy yên tâm cho những đứa con đang tự thể hiện ra ở những dạng thối rữa khác nhau lạ lùng nhưng chắc chắn mẹ họ lại nhận ra được…
Nghe tin ta và cố vấn mâu thuẫn nhau. Cố vấn cho rằng ba ngày đánh Cốc Xá là nướng quân nhưng Giáp quyết diệt quân Charton đóng trên núi… Tự nhiên thấy khó chịu với các cố vấn. Như bị xúc phạm.
Trong tổng kết chiến dịch đã có các cuộc tranh luận khá gay gắt về phối hợp giữa binh sĩ Việt Nam và cố vấn. Nhưng sau khi kết thúc thắng lợi chiến dịch biên giới,
ngày 14 - 10 - 1950, Hồ Chí Minh gửi thư cho Mao Trạch
Đông, Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc: Tóm lại, tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối Mao Trạch Đông cách mạng, quốc tế chủ nghĩa. Tôi không nói lời khách sáo: “Cảm ơn các đồng chí,” mà nói các đồng chí Việt Nam và nhân dân chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa giành lấy thắng lợi cuối
cùng lớn hơn, lấy thành công để đền đáp sự kỳ vọng tha thiết và giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Liên Xô anh em.
Chả ai thấy chữ đền đáp kỳ vọng nghe nó quá bề dưới…
Không phải ngẫu nhiên mà đến Đại hội 2 (1951), điều lệ đảng đã ghi “tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam” của đảng.
Báo Sự Thật đăng bài “Khi chúng ta đánh” của tôi viết về trận nhổ đồn Đông Khê. Hai tháng sau, xong chiến dịch, mộttối về đến Chợ Chu, vào quán nghỉ, tôi gặp Từ Bích Hoàng, Sĩ Ngọc ở báo Vệ Quốc Quân. Hai anh cho hay báo các anh đã đổi tên thành Quân Đội Nhân Dân và ra số thứ nhất, ở số báo ra
mắt này, các anh đã xin phép đăng ở trang nhất bài “Khi chúng ta đánh.”
Và ở đây xin kể thêm lần hành quân qua Đại Bục, Đại Bác, đèo Khau Vác vào đánh Nghĩa Lộ. Tôi đi cùng Tô Hoài. Trung đoàn 88.
Trời mưa dữ dội. Quân lính dừng lại ở bên một con suối rộng chừng hai mươi mét. Nước lũ cường dựng ngược lên một con dốc đứng gào thét. Anh trung đội trưởng hất đầu. Một lính trẻ măng mặt bầu bĩnh, má lũm đồng tiền đi lên. Tối qua anh ngủ gần chỗ tôi. Tiếng lính hành quân lần lượt truyền nhau: “Lệnh không ngâm Tây Tiến của Quang Dũng ủy mị.” Truyền miết nó gần như hóa ra Không... Tây Tiến... anh
dũng... Lệnh vừa báo nghỉ thì mấy lính trẻ ồn ào tranh nhau ngủ bên anh lính má lũm đồng tiền.” Nằm với nó ấm lắm!” Bây giờ anh đứng ở đây. Anh nhẹ nhàng trườn vào dòng nước. Tôi thầm khen anh giỏi: biết đánh lén con nước dữ.Nhưng anh trúng nghi binh. Nó đã vồ nghiến lấy anh. Cuộn dây thừng trong tay anh tuột ra văng trên mặt nước như một lằn roi sáng quắc. Và chỉ một dìm xuống rồi một nhồi thúc lên là anh lính liền mất tăm. Khi anh dội ngược trở lên lần cuối, hai mắt anh mở đã dại đờ. Cái chết chớp nhoáng nhưng
những nghi thức đi kèm nó lại từ tốn rất mực. Cặp mắt dại kia như mơ màng khép lại, tóc trên trán anh thong thả tách ra từng sợi lượn lờ rồi ngoan ngoãn theo nước mơn trớn phân chia để lần lượt rẽ trái rẽ phải hai bên, quá đều, quá phân miêng, khơi ra một đường ngôi quá thẳng, quá sạch, quá trắng ở chính ngay giữa đỉnh đầu anh. Tôi khẽ nấc và cắn chặt môi. Tôi thấy lại anh ba bốn tuổi đang ngửa mặt lên cho bàn tay mẹ định hình đường ngôi đầu tiên trong đời để anh giữ lấy mãi, đường ngôi mà nay con lũ trung thành đang tỉ mẩn
xếp lại cho đúng nguyên mẫu ban đầu.Tôi nhìn xuống nắm cơm mới bửa trong lòng bàn tay tôi:nó đã thành hai mảnh cùi rỗng bị mưa khóet tan nát hết...
Sau đó bám dây qua, tôi trước, Tô Hoài sau. Người, ba lô, ruột tượng (mười ký gạo), tất cả nằm thẳng băng trên sóng cuồn cuộn. Hai đùi rung lên bần bật muốn rời bung ra. Sợi chão lớn chúng tôi ôm bấu lấy nó dạt cong ra như một cánh cung căng hết độ chỉ dọa đứt. Và chúng tôi là những đầu mẩu thừa của những cái nút buộc lật phật trên cánh cung...Tối hôm ấy, Tô Hoài va tôi ngủ ở sườn núii dốc 30 độ . Đầu gối ba lô , mỗi đứa chen chân vào một gốc cây cho khỏi tụt...
Trước đó chúng tôi qua một bản Mèo trên đỉnh núi. Ba nhà, mấy người đàn bà mặt phù , và ngửng nhìn chúng tôi như nhìn người nước ngòai.
Tối hôm sau, đêm hành quân cuối cùng va o va y Nghĩa Lộ, chúng tôi bạt mạng chạy theo người trước mặt qua cây cầu dài mười mét, rộng bằng ba bàn chân tôi mờ mờ . Suối réo như sôi bê n dưới vực. Vừa chạy vừa nghĩ: 
Rơi, rơi này… Cái gì đưa chân đi? Không phải mắt! Một vong linh yêu thương nào đó.
* * *
Tôi ra trận lần đầu vào hồi tháng 8 - 1948. Kỷ niệm lần thứ ba Cách Mạng Tháng Tám, tỉnh mở “cuộc tổng công kích Đường 5.” Tôi đi cùng ban chỉ huy một tiểu đoàn hành quân đêm qua vùng chiêm trũng giữa Cẩm Giàng - Gia Lộc để đánh bốt Mao Điền gần Đường 5. Mao Điền này có Văn Miếu đồ sộ
 Mao Điền này có Văn Miếu đồ sộ không kém mấy Văn Miếu Hà Nội. Giữa chừng lọt vào trúng đồng lụt. Lội lên một xóm nhỏ hẻo lánh vắng tanh có một túp lều tí tẹo xiêu vẹo. Bảy tám chúng tôi vạch liếp vào. Hai nguời đàn bà, một già chắc là bà, một trẻ chắc là mẹ, và một đứa bé mấy tháng trong tay người mẹ mặt mũi đen nhẻm những vết tro than. Hai người sụp lạy như tế sao: “Bẩm lạy các quan, bẩm lạy các quan sinh phúc...” Tất cả trở ra. Mình tôi nán lại, nắm tay bà già: - Ta, ta đây mà... ta...” Thật lòng muốn lạy trả
lại hai người đàn bà khiếp đảm.”
Khỏi cái lều thì sục vào một bãi hoang đầy thị chín rụng nát dưới chân. Khu Văn Miếu Mao Điền ư! Mùi thơm ngào ngạt, bát ngát kỳ lạ. Cả cái bãi tối như đang được cất bổng lên tới một nơi thanh khiết không hăm hở, không sợ hãi, không người lạy người. Cả đời tôi sau này, ước mong hoà bình luôn hiện ra trong không gian thâm u tràn trề muì  thị lâng lâng đến miếu này…
Sau đó bị phục kích. Quay đầu chạy lui, nước ngang bụng.
Những quả hoả châu dập dềnh tròng ghẹo trên đầu.Trận đánh đầu thị xã Hải Dương có Trần Châu, anh tôi.
Những quả mìn nằm trong giọ lợn hai lính khiêng một quả, chẳng rõ thế nào giữa chừng phát nổ. Lộ hết. Thế là rút,không đánh kỷ niệm cách mạng nữa. Nhưng bản tin ty thông tin hôm sau mang măng sét đỏ: Tổng công kích Đường 5 thắng lớn!
Chiến tranh để lại ở tôi ba ấn tượng sâu sắc: buồn, sợ và thuơng - thương dân, thương đồng đội, thương cả đối phương. Nhưng tất cả đều phải giấu kín. Như giấu nghi ngờ trong đầu: nhiều chiến công là phịa. Và đầu tiên giấu sự thật, cố nhiên.
Cuối cùng một phen hút chết. Sau khi tiêu diệt binh đoàn Charton và Lepage trên Đường số 4 và quân Pháp rút bỏ Thất Khê, ta tổ chức một tối đại lễ mừng chiến thắng ở ngay trung tâm thị xã Cao Bằng. Nghe nói Bác Hồ sẽ đến. Nhưng rồi tan.
Bom Pháp.
Tôi bị trận bom lớn đầu tiên xẩm chiều hôm đó. Ngỡ chữ Thọ vẫn ở trên trán đã văng đi đâu mất. Nằm ngửa nhìn Đa -cô - ta, loại DC3, từng đợt ba chiếc từ từ dịch đến trên nền trời đang tái dần. Đất vặn mình, hơi bom - hay cả mảnh bom -phần phật... Rồi chợt thấy nền trời như một tấm khăn giường rất căng rất phẳng và các chiếc Đa - cô - ta quay về xuôi đang trôi lướt trên đó. Đèn đuôi chúng nhấp nháy êm ả như vài
ánh bếp đêm hôm rất gợi nhớ nhà. Biết nguy hiểm đã qua nhưng lại buồn.
* * *
Trước cảnh chiến địa tan hoang, ngổn ngang xác người tôi cứ luôn thấy buồn. Cố nhiên không dám thổ lộ. Tôi chú ý thấy thương binh địch và ta giống nhau lạ lùng ở con mắt sợ sệt.
Mặc dù ở quân y tiền phương, thương binh ta đuợc cứu chữa tốt hơn… Thì ra cái sợ là dấu hiệu tuyệt đối bình đẳng của con người ở trước cái chết
Tôi không thể quên lần ở đồn Mộc Châu vừa im tiếng súng cuối 1952, tôi hỏi Vũ Lăng: - Lúc đánh có sợ không?
- Sợ chứ!
- Sợ thật?
- Thật..., vãi đái ra mà. Nhưng chỉ lúc chờ đánh, lúc vây đồn thôi. Còn nổ súng rồi thì hết sợ. Diệt đồn xong, đứng dưới cờ chiến thắng phấp phới, quần đã khô từ bao giờ.
- May, tôi nghĩ thật nhưng nói bằng cái gịọng đùa, nếu cái sợ nó không thể hiện bằng nước mà lại bằng sẹo trên mặt nhỉ?
Vũ Lăng nhồi thuốc vào tẩu ngước lông mày rậm nhìn tôi.
- Thì trên mặt ai cũng dày cộp lên di tích sợ... Khi ấy khéo con người sẽ thôi đánh giết nhau.
Vũ Lăng dư dứ cái đầu tẩu vào tôi... Thuốc trong tẩu là Abdhulla.
Thế là có hôm tôi chợt thấy giá như cái sợ không chỉ để lại di tích trên mặt người bằng những cái sẹo mà cả những thành tích giết địch cũng được lưu lại bằng sẹo trên mặt? Chúng ta sẽ có những anh hùng mà mặt mũi giống hệt người bị hủi cùn hủi cụt. Lúc ấy Nha nước khéo phải có một hình thức nào đó
để giúp phân biệt sẹo anh hùng với sẹo hèn…Nhưng lại tự dẹp ngay cái ý nghĩ tầm bậy đó. Tôi vẫn chưa
nhận ra bản chất bạo lực, nhất là bạo lực vũ trang hay “chính quyền ra từ nòng súng” của cộng sản, hay rõ nữa: với mục tiêu đào mồ chôn tư bản, cộng sản không thể hòa bình với tư bản. Phải đến cuối 2010, đọc Matterhorn, tiểu thuyết ra mắt giữa 2010 víết về một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ chiến đấu ở Khe Sanh, A Lưới, Cam Lộ tôi mới hiểu hơn. Tác giả, Karl Marlantes, tốt nghiệp đại học Yale - như vợ chồng Bill
Clinton, W. Bush, Kissinger - 21 tuổi đã là lính ở Khe Sanh và tiểu thuyết này của ông đã được đánh giá rất cao - tác phẩm Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam hay nhất và có lẽ khó có sách nào vượt hơn. Bởi tinh thần nhân văn tràn trề làm chỗ đứng cho tác giả nhìn nhận nhân vật trong tác phẩm. Tôi đã rất cảm động đọc đề tặng của ông: Tiểu thuyết này tặng cho các con tôi, chúng lớn lên với cái hay và cái dở của việc có một
người bố là cựu chiến binh Thủy quân lục chiến. Nên biết ông nhận hơn mười lọai huân huy chương khác nhau trên chiến trường Việt Nam.
Anh lính có chính ủy giáo dục chỉ thấy thiên đường là dành cho mình, người chính nghĩa; còn địa ngục thì cho thằng phản động, cái đứa mà mình đã lập công giết chết.
Thâm tâm kị chiến tranh, nên tôi nói hơi kỹ cảnh đau lòng của chết chóc. Chính tâm lý ngán chiến tranh đã dẫn tôi tới nỗi tội đồ.
* * *
Từ Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn, nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt..., còn cố vấn, còn chỉnh huấn, có thể nói một nề nếp sinh họat mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi trọng Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ, báo chí ở ATêKa. Lớp cán bộ sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi cùng chi bộ - tức một nhà sàn - với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê Đạt. .năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác.
“Mời các đồng chí trọng thính lên trên cùng.” Nam, trong học ủy, trịnh trọng mở lớp. Cả lớp - kể cả thâm nho Ngô TấtTố - ngớ ra.
- Trọng thính là các đồng chí nặng tai ạ! Mọi người ồ lên.
Tôi vẽ trên báo tường: một người vẹo mặt đi, tai xệ xuống vai
vì một quả tạ có chữ “trọng lượng thính.”
Bắt đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa.
Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng hết phần lý luận chuyển sang phần kiểm thảo thì đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì muốn cưỡng lại nhưng không dám. Trung Quốc làm thế từ Diên An cơ mà! Mỗi người đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm ra với đảng dù nghiêm trọng đến đâu.
Lòng thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Xin nói thêm là khai cả tội ác của bố mẹ, vợ con, bạn bè nếu họ có. Một tên chỉ điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó - một thằng cò sợ hay một thằng Javert của đảng - bèn trùm lên khắp người anh.
Có thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Chìa khoá vạn năng thúc đẩy tiến bộ tư tưởng! Dĩ nhiên lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là cuộc
xâm thực ô nhiễm nhân cách. Những người chống Mao ở Trung Quốc chưa cầm quyền, chưa vạch ra mục đích chỉnh huấn nham hiểm của Mao, dùng chỉnh huấn khống chế mỗi tôi con của đảng bằng cách nắm lấy cung của mỗi tôi con -một biến thể của hồ sơ mật thám. Gogol viết một đại điền chủ thu mua các linh hồn chết. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ.
Song lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Nói chung không có gì ghê gớm. Trừ Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày vì Tố muốn bỏ về sớm. Và Tố đã lỡ khai rằng hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố có nói một câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời cộng sản. Cho thời Tây còn ung oảng sủa dăm ba tiấng chứ chó thời cộng sản thì cúp đuôi nằm im re...
Như Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: - Bữa ấy tớ có mặt, tớ cùng ở Cứu Quốc với Tố mà, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng..., Như Phong ôm miệng cười nhìn quanh, đếch biết là hắn say thật hay là vờ để chửi, mày ạ. Theo tớ thì vờ. Dạo ấy đảng còn lỏng tay nên chúng nó mượn rượu nói xỏ , nay xem có thằng nào say nói láo nữa đâu!
Khó quên hình ảnh Ngô Tất Tố tóc dài nhưng thưa, hoa râm, lòng khòng đứng cúi đầu ăn cơm, một dáng co cụm như đeo biển miễn giao lưu, ở cái bàn tre đan xiêu vẹo vắng tanh dành cho học viên đau dạ dầy ăn nếp. Thỉnh thoảng Lê Đạt đến ngoác mồm ra tán ở bên…
Nhân đây nói liền sang Tố và công tác tư tưởng thời đó ở trong giới văn nghệ sĩ An toàn khu.
Hai năm trước Ngô Tất Tố dịch “Trời Hửng” của Trung Quốc. Tố sống ở một gian nhà nứa ngay cạnh gian của Nguyễn Tuân nhưng hai vị trưởng lão này kỵ vía, không nói năng với nhau. Mạc Phi bảo tôi, sớm nào Phi cũng đun nước sôi cho Tố pha trà. Anh vừa được cất nhắc vào ban lãnh đạo mới của đoàn kịch Chiến Thắng gồm có Song Kim, Hoàng Tích Linh và anh. Hai nhà lãnh đạo tài ba cũ Thế Lữ và Võ Đức Diên, nhà kiến trúc sư kiêm kịch tác gia và anh ruột của Trần Quang Huy đã bị Tố Hữu phế bỏ. Tố Hữu chỉ thị cho Tích Linh và Mạc Phi, hai đảng viên: - Đảng đưa hai anh vào đây để làm gì? Để lọc hết máu tiểu tư sản cho đoàn kịch. Lọc rồi thì chuyền máu gì cho anh chị em? Máu công nông binh! Nói cụ thể là phải quần chúng hóa, tập thể hóa, quân sự hóa đoàn kịch... Tập thể hóa là thế nào? Nói cho dễ hiểu là không cần
sân khấu, bục diễn, hậu trường, cánh gà, son phấn chi cả. Diễn lửa trà… à... trại… giữa trời, lưa.. trà… à… trại là đi thẳng từ quần chúng đến quần chúng. Tư tưởng tập thể còn là gì nữa?
Là việc sao chi cần một người hát giọi? Đúng, ta cần là quần chúng đều biết hát, đều tư hát để tự nghe, tư nâng cao tinh cảm cách mạng lên. Làm sao phải xòn phe cho rối mắt quần chúng? Bên Trung Quốc vì quần chúng, người ta thay đồ, rê bằng 1, 2, 3, quần chúng nhìn vào hát ngay được.
Theo Mạc Phi thì cụ đồ Tố và Tuân xung khắc nhau. Tố cho là Tuân kênh kiệu vờ để hách lác thật. Điệu bộ sang cả chuyện” lột xác “cho khác người. Tố mách Phi lật cái ảnh con trai Tuân, đại đội trưởng Trần Xuân Trường mà Tuân để ở trên bàn nứa của Tuân ra mà xem mặt sau. Phi xem. Thấy Tuân đề ở sau bức ảnh dòng chữ: “Je suis le fils de mon fils.”(Tôi là con của con tôi). Tố hỏi Phi: - Xem rồi chứ? Tại sao cứt
nhà tôm lại lộn lên làm đầu như thế? Vì công nông binh từ nay là đấng phụ mẫu sinh thành ra bọn trí thức vốn không bằng cả cục cứt.Một sáng Trường Chinh họp kiểm điểm báo với chúng tôi ở dưới ngôi nhà sàn tòa soạn. (Đêm đêm, đó là bãi thả dê của cụ chủ nhà người Tày. Sớm nào chúng tôi cũng nằm sấp trên
sàn thò đầu nhìn cụ chủ mở cửa thả dê ra rừng. Bốn năm chục con dê toàn cái chen nhau lao ra. Nhưng tới cửa con nào con nấy đều bị con dê đực chặn lại phủ nhay nháy mấy cái, việc mà chúng tôi đùa là “điểm đít” thay cho điểm tâm.) Đang họp, Trường Chinh bỗng chỉ xuống chân đồi, ngay trước mặt: - Các anh xem kìa.Trên bờ tràn ruộng hẹp đầy nước loang loáng giữa những búi lúa mới vổng đuôi gà, ba người rồng rắn đi tới. Ba cái mũ vải (sau gọi là tai bèo nhưng dạo ấy ở An toàn khu gọi là mũ Tô Ngọc Vân), ba túi dết vải toòng teng cùng đeo về bên trái hông, ba cây gậy chống và ba cái tẩu phì phèo. Tất cả những đạo cụ sân khấu đi kèm nhà văn nhà thơ ấy đã được chia đều ra ở đầu, tay, miệng của Tố Hữu dẫn đạo, Nguyễn Tuân khúc giữa và Nguyễn Đình Thi khúc đuôi.- Các anh xem, bắt chước nhau cho khác người nhưng lại
phải giống hệt nhau, văn nghệ sĩ là phải như thế ư? Anh Nguyễn Tuân mặt to ngậm píp còn khả dĩ chứ anh Tố Hữu mặt choắt thì píp nó che kín mặt hết...
Trong mắt Trường Chinh, Tố Hữu không chỉ bé mặt mà còn bé chức. Nhưng đến Đại hội 2, ba năm sau, anh đưa TốHữu vào sổ Thiên tào - dự khuyết trung ương. Cùng Lê Liêm, Xuân Thủy...
Trường Chinh lúc ấy rất quan tâm đến văn hóa văn nghệ.
Lê Đạt được kén làm thư ký mảng này. Một dạo Ban Văn Hóa của Trần Huy Liệu kiện Ban Văn Nghệ của Tố Hữu buôn lậu lấy tiền lập quỹ đen tiêu xài vung vãi. Trường Chinh cử Lê Đạt đến nghe hai bên. Đạt tới và trước hai bên nguyên bị sát khí đằng đằng, toét mồm tự giới thiệu: “Dạ, thưa tôi đến thế này chẳng qua cũng là anh lính lệ nhà quan.” Trần Huy Liệu cười.Tố Hữu xầm mặt lại.
Ít ra lúc ấy trên rừng, chủ nghĩa Mác - xít chưa thành chủ nghĩa Mác - mít, chủ nghĩa nồi cơm (tiếng Pháp: marmite -BT)... Chưa có câu “ngậm miệng ăn tiền,” “đi bằng đầu gối,” “mác xít có số.” cái gì làm cho chủ nghĩa Mác - xít biến âm thành chủ nghĩa nồi cơm? Đảng đã dẫn tất cả đi vào con ngõ cụt, bước theo một ngọn đuốc kị lửa trí tuệ mà các “đồng chí” thèm thuồng đa t đai la nh tho cu a m nh giương le n… 

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

MỘT CÁNH CHIM BẰNG

(Chương 2- Tác phẩm  ĐÈN CÙ của Trần Đĩnh )
Đầu đề do tôi mạo muội... đặt)
Khi người ta còn sống thật, tôi còn được hưởng một
không khí dân chủ nhất định. (Báo l’Humanité (Nhân
Đạo) cộng sản Pháp là tài liệu tham khảo đều đặn của lãnh
đạo đảng và Pháp cộng chưa nắm quyền nên còn chịu khó ve
vãn dân chúng.) Một thí dụ: Trường Chinh đang đọc La
Libération (Giải phóng) báo Pháp. Đi qua, tôi ghé nhòm thì
Trường Chinh nói: - Chốc anh bảo anh Trí đưa cho mượn. Có
bài này hay, nên xem…
Một tối trình bày xong ma - két số báo mới, tôi mang cho
Trường Chinh duyệt. Xem một lượt, Trường Chinh chợt cau
mày gắt: - Anh học cách làm của báo tư sản lúc nào đây? Tên
Sự Thật xưa nay đã có chỗ của nó ở trên đầu cùng trang nhất.
Cớ gì anh lại cho trán tụt xuống cằm còn cằm thì nhảy lên
trán? Không cần câu khách bằng kiểu tư sản uốn éo này... Cho
tôi cái bút!
Thư ký Trí đang cười cười ở đằng sau Trường Chinh thoắt
đã biến mất. Tôi chạy đi tìm bút. Trường Chinh nói: - Anh đến
làm việc với tôi mà không có bút bên người sao? Yên chí anh
đã làm là đúng ư?
Đó là lần tôi bị cọ dữ. Nhớ nữa cũng là vì tối ấy Văn phòng
Tổng bí thư Trung ương bắt đầu có điện máy nổ. Nhìn cái
bóng đèn 30 bu - gi chụp bằng bìa cứng hình cái phễu cắt loe
ra thành răng cưa ở đầu cùng chiếu sáng được khoảng hai
mét xung quanh, tôi cứ đinh ninh nó được mua ở An Po, bến
tàu điện đầu đường Nguyễn Thái Học, chốn nô đùa của lũ trẻ
con học sinh chúng tôi chờ xe điện đến trường chạy bom Mỹ
vào Ba La Bông Đỏ ngày xưa.
1951, đi thực tế một năm ở huyện Lâm Thao, tôi thư cho
Trường Chinh nói ở xã Văn Lung có một cha cố “rất hay “thì
anh viết thư trả lời nói tôi nên tìm hiểu xem ông ấy có thực
hiện tốt giảm tô giảm tức hay không và lời nhắc nhở này đã
làm cho tôi khá ngượng. Mao Chủ tịch bắt đầu “nhắc Bác vấn
đề lập trường” - chúng tôi nghe xì xào - mà anh và Cụ Hồ đã vi
phạm khi chủ trương đoàn kết cả với địa chủ để đánh Pháp
đuổi Nhật...
Một hôm Nguyễn Lương Bằng phàn nàn Tuấn, thư ký kinh
tài của Trường Chinh đến hội nghị kinh tài Nguyễn Lương
Bằng chủ trì đã lên nói “Tổng bí thư bận không đến được, tôi
xin thay mặt có mấy ý kiến với hội nghị như sau...” Lát sau
Trường Chinh cười bảo chúng tôi: - Thanh niên thì hay tếu ấy
mà…
Có thể nói Trường Chinh là thần tượng của tôi. Song một
người - nghe đâu có họ với Trường Chinh - cũng ảnh hưởng
rất mạnh đến tôi. Ấy là Kỳ Vân, tức Đông Thọt, hay Nhân
Chính, bút danh trên Sự Thật, người không biết một húy kỵ
nào. Mày tao tớ hắn với hầu hết mọi người. Vô cùng thoải
mái, hồn nhiên.
Nhà giàu, Kỳ Vân chuyên bị Nguyễn Lương Bằng bảo mua súng. Mua được năm khẩu súng trường rồi Kỳ Vân từ chối.(“Cứ nã khống tiền tớ!”) Bằng bèn đưa tìền để Kỳ Vân mua năm khẩu pặc hoọc. Lính Tưởng (Giới Thạch) bán súng mời anh nhậu say rồi tráo súng giả. Bằng đòi kỷ luật, anh bảo anh đền tiền. Bằng bảo không lấy tiền, mà đòi kỷ luật nên đầu kháng chiến chống Pháp, Kỳ Vân đi trông một nông trường bò của Nguyễn Lương Bằng ở Đô Lương. Nhân viên làm chết mất cả mấy trăm con, Sao Đỏ (bí danh của Nguyễn Lương Bằng) lại phạt, điều anh về sửa mo - rát ở nhà in báo đảng, tài sản Nguyễn Lương Bằng quản. Trường Chinh qua thăm nhà in lập Ủy ban xí nghiệp, comité d’ entreprise, theo kinh nghiệm cộng sản Pháp - tôi phải viết tin này - gặp anh, đã kéo anh về tòa soạn viết lý luận.
Một xẩm tối, tôi rủ Kỳ Vân sang Ban tuyên truyền trung ương liên hoan. Gần tới đầu bản, anh hỏi thằng nào trưởng ban. Tôi nói Lê Quang Đạo. Anh nhíu mày, lẩm bẩm, “Đạo nào nhỉ? Có thằng nào tên là Lê Quang Đạo đâu chứ?” Tới nơi, tôi bị đám trẻ kéo đi hỏi có tiết mục gì góp vui không thì thấy tiếng Kỳ Vân gọi rất to: - Trần Đĩnh..., Trần Đĩnh..., này. Trở lại. Thấy Lê Quang Đạo đang rúc đầu vào bụng Kỳ Vân, hai tay ôm quàng người Kỳ Vân và cả hai cười ha hả. Kỳ Vân vỗ vai Đạo bảo tôi: - Tưởng thằng nào..., thằng Nguyện này tớ kết nạp vào đảng.Hình như kết nạp đầu tiên Thân Mỡ, bí thư đầu tiên của Đình Bảng khi Kỳ Vân bí thư Bắc Ninh, Bắc Giang rồi Thân Mỡ kết nạp Đạo và một lứa trẻ tuổi sau đó lập nên chi bộ đầu tiên
ở Đình Bảng. Tự tử chết khi tổng kết tư tưởng ở lớp học Mác -Lê Bắc Kinh, Thân bị khai trừ, không còn là người lập chi bộ đầu tiên ở Đình Bảng nữa. Người gieo hạt Kỳ Vân, sau này mắc vụ “xét lại” cũng thế.
Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Địch Dũng đều rất phục Kỳ Vân. Rải truyền đơn giữa phiên chợ Dầu, Phù Lưu. Thong thả đi, thong thả ném... Một lần Kỳ Vân vào Phù Lưu trở ra, bị một cảnh sát nghi có thuốc phiện lậu, nó túm lấy cặp anh đòi khám. Trong cặp có súng, Kỳ Vân vội móc súng ra quăng đi nhưng không được. Quan phủ Từ Sơn biết là cộng sản lớn bèn đích thân lấy xe hơi giải anh về Hà Nội, Giữa
chừng, đến quãng gần Chùa Dận có đầm sâu bên đường, Kỳ Vân ngoặc hai tay bị còng vào bánh lái giật. Xe lao xuống đầm.Có cơ thoát nhưng không may, Kỳ Vân bị cánh cửa xe đập vỡ xương hông, không chạy được. Kỳ Vân có tên Đông Thọt từ đấy. Mật thám tra hỏi chiến khu ở đâu, anh đáp ở Lục Nam.Giải đi đến chiến khu. Tìm cả ngày không ra, liền đánh lộn mề gà lăn lóc. Đi tù Sơn La, cố nhiên sau những trận đòn xăng tan ghê hồn.Có thể nói Kỳ Vân là người đầu tiên giải kịch tính, giải huyền thoại cho các hoạt động cách mạng. Những tối Kỳ Vân kể chuyện hoạt động hải ngoại cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần..., chúng tôi cười tưởng đổ nhà sàn. Không thần bí hóa, không anh hùng hóa,
không bi tráng hóa, anh cho chuyện của anh diễn ra như ngẫu nhiên và buồn cười. Chả nhân vật nào là thần tượng được qua mắt anh.Tù ở Sơn La quá đông, Pháp giãn một số trong có Kỳ Vân về căng Bá Vân, Thái Nguyên. Đến đây, phớt lờ chi bộ, anh vượt ngục về Hải Phòng, sống ở Lạch Tray - mẹ anh có hàng dẫy nhà ở Hải Phòng và nhiều ruộng ở Kiến An - dặn mẹ ai hỏi thì bảo anh vẫn bị tù.” Vì sao?” Mẹ hỏi.” Vì không thì
người ta giết con.” , “Ai giết?.” “Các đồng chí của con… Con tự ý trốn tù mà...” (Tôi hỏi ngay: - Biết thế sao còn trốn? Kỳ Vân cười: - Thế triệt để tôn trọng pháp luật Tây mới là cách mạng à? Có thể trốn thì cứ trốn chứ. Cách mạng cần người hay cần tù?)
Được ít lâu, bà mẹ tìm nói có người tên là Tự nhiều lần đến khẩn khoản xin gặp anh Đông, có chuyện rất cần. Nhận ra là Hoàng Quốc Việt, Kỳ Vân bèn gặp. Theo lệnh Trung ương, Việt tìm Kỳ Vân để bảo Kỳ Vân biết cùng sang Hoa Nam tham gia đại hội thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội do Quốc Dân Đảng Tưởng (Giới Thach) triệu tập cuối năm 1942. Họ muốn thống nhất các tổ chức chính trị Việt Nam ở Hoa Nam lại để đánh Nhật ở trong nước và cung cấp tình báo cho họ.Tàu Tưởng bắt tù Cụ Hồ chỉ cốt để báo cho biết nó chả ngọng Cụ là cộng sản, cụ muốn họat động thì hãy chịu cuơng tỏa của nó... Nhờ tập thơ giãi bầy tâm sự trong tù với Tàu Tưởng tôi đây yêu nước chứ không cộng sản rồi nhờ có thêm người -như Hồ Học Lãm nói với Trương Phát Khuê, Cụ đã được ra tù và cùng với Nguyễn Hải Thần lãnh đạo Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Hoàng Quốc Việt và Kỳ Vân sang Hoa Nam Trung Quốc vì thế. Sau đó Kỳ Vân ở lại Hoa Nam. Đến Đại hội Tân Trào tháng 8 năm 1945, anh về họp với tư cách đại biểu cách mạng hải ngoại. Hay lỡm chuyện cách mạng - thường nhiều ngẫu nhiên ăn may và đã ăn may mà nên chuyện lớn
kiểu như Trạng Lợn thì dễ buồn cười - Kỳ Vân cứ đảng viên quèn hoài.Một chuyện nghe anh kể mà tôi rất phân vân. Lúc đó ở Sơn La giam mấy chục lính khố đỏ ủng hộ Trần Trung Lập theo Nhật nổ súng chống lại Pháp khi Nhật tiến công vào Lạng Sơn cuối 1940. Thua, Pháp đành ngừng việc Đồng Minh chuyển vũ khí, trang bị cho Tưởng qua đường Hải Phòng - Vân Nam cũng như để Nhật đóng vài trăm quân trên mạn bắc sông Hồng và ở cảng Hải Phòng. Đổi lại, Nhật trả tù binh gồm cả những lính khố đỏ này cho Pháp. Ở nhà tù Sơn La, họ đặt kế hoạch vượt ngục để sang Trung Quốc. Nắm được tin này, chi ủy cộng sản liền chủ trương báo cho Pháp bíết, phá không cho các tổ chức quốc gia “phản động” có thêm lực lượng, nhất là binh lính nhà nghề. Là chi ủy viên, Lê Liêm báo Kỳ Vân về quyết định này. Ai ngờ Kỳ Vân chất vấn luôn bí thư Lê Thanh Nghị. Trong tù, kỷ luật sắt, phổ biến vô nguyên tắc, biết vô nguyên tắc nghị quyết tối mật của chi ủy mà lại còn chất vấn và bất bình phản đối như thế này nữa thì cầm bằng toi. Kỳ Vân thế là lại thêm vết. Đám lính khố đỏ sau đó bị Pháp chuyển đi nhà tù khác… Vì sao thì bố ai biết, Kỳ Vân bảo tôi.Chắc họ bị lộ.
Tôi phục Kỳ Vân ngay thẳng nhưng không tán thành việc anh bênh lính khố đỏ!
- Nhưng sao phải phá họ? - Anh cười hỏi vặn lại.
- Phản động mà!
- Phản động mà chống Pháp! Đã mắc lừa Nhật cú vừa rồi thì lẽ nào vượt ngục ra họ lại tự đem họ nộp cho Nhật nữa?Vậy vượt ngục là để họ chống Pháp và Nhật. Còn với ta thì lấy gì bảo họ chống ta? Hay là vì đảng phải dẹp các đảng phái quốc gia để giành lấy độc quyền lãnh đạo? Trước khi hợp nhất, ba tổ chức cộng sản chẳng chửi nhau là phản động và đều muốn xơi tái nhau cả đấy thôi.
Nghe có lý nhưng tôi vẫn không thông lắm. Vẫn thấy để độc quyền lãnh đạo thì đảng cần phải làm suy yếu tất cả các đảng phái khác. Y như trong cuộc đua xe đạp vậy. Đối thủ ngã, anh có xuống đỡ dậy không?
Kỳ Vân cười: - Ừ, có khi còn xuống đạp mấy cái cho gẫy xe nó nữa ấy chứ. Làm gì có tinh thần thượng võ sportif trong chính trị, mày.
Bữa đầu gặp Kỳ Vân, tôi lập tức mến. Chiều hôm ấy, mang bài vở đến nhà in làm số báo tới, tôi sắp lội con suối chạy quanh chân đồi lên nhà in thì ở bờ trước mặt một người cao cao gọi: - Trần Đĩnh?
Môi đỏ, răng trắng, mắt long lanh, người ấy cười rất tươi nói tiếp: Thư sinh vào đây thì chỉ là dân tòa soạn. Cậu viết được đấy. Ở nhà in mà bình văn toà soạn “kẻ cả” thế này? Tôi hơi ngạc nhiên thì anh nói tiếp: - Văn cậu trẻ. Nhờ cái thần.Còn cậu viết trôi, viết hoạt thì là nhờ cái khí. Thần ở con mắt nhìn. Khí là ở luồng câu cú chuyển vần hay quan hệ sự việc móc xẩu vào nhau.Phải nói tôi ngẩn tò te ra. Nhưng ai lại đi hỏi cho lòi cái dốt.
Ngay chiều hôm sau tắm suối, anh đã cho tôi hiểu hơn “thần” là thế nào. Giữa dòng suối ở quãng phình rộng ra nổi lên một doi đất đầy lau mọc cao um tùm. Rất nhiều chim bạc má lao vút vào trong đó rồi lại bay ra.
- Cậu có thấy bạc má khi bay ra hình như má có bạc lên hơn không? Biết đâu bãi lau này là mỹ viện của bạc má để vào xoa lại phấn cho má bạc thêm? Tối qua cậu cứ giục tớ cọ đi những vết mực in trộn nhọ chảo chúng bôi vào điếu cầy mà tớ dính phải. Cọ làm gì? Cái ánh bạc ở má con chim vừa nhờ vào mỹ viện mà đậm thêm lên kia có khi cũng bị các giống chim khác coi là một vết nhọ. Lính Xê - nê - ga - le (xứ Sénégal,
Bắc Phi, thuộc Pháp - BT) rạch ba vạch sẹo lên má mà ta thấy sợ thì ở họ là để làm đẹp. Với họ sẹo là yếu tố điểm trang! Đỏ môi, quầng mắt ở phụ nữ bây giờ cũng là một thứ sẹo, sẹo làm đẹp mà thôi.
Thình lình bức màn xưa nay che mắt tôi với thế giới vô ngôn đầy nghĩa vụt rơi xuống. Sau này đọc các tổ sư bồ đề cấu trúc luận, tôi thường nhớ lại cái mỹ viện của chim bạc má là cái bãi lau giữa suối kia. Má bạc hay sẹo? Hay nhọ? Nhọ hay điểm trang? Đẹp và xấu? Ẩn ở sau tất cả các nghi vấn đó phải chăng là dục vọng? Dục vọng nảy ra vào thời điểm nào, nó nấp ở đâu và biến tướng ra sao trong ta.
Kỳ Vân hay đọc sách Tàu. Trên bàn nứa của anh một cuốn sách chữ Hán mỏng. Tôi hỏi, anh nói: - À, Mao nói về quan hệ chính trị và văn nghệ.
- Hay không? - tôi hỏi.
- Cha này siết văn nghệ chặt như Lê-nin. Nhưng văn cha hay. Thì Tàu nó có truyền thống văn chương nghị luận từ Xuân Thu Chiến quốc, Lã Bất Vi còn gì. Đâu có như ta? Ta không có văn xuôi. Toàn chỉ là đàn kêu tích tịch tình tang, ai mang công chúa dưới hang mà về; đàn kêu tích tịch tang tề,công chúa đã về rồi lại hoá câm..., cứ ê a vần vò cốt sao sướng lỗ nhĩ và dễ thuộc. Cái cần nói ra bèn hóa thành thứ yếu, cái giúp người ta nhớ thì thành ra quan trọng... Không có văn tự, phải truyền khẩu nên nghịch đảo như thế...
Chỗ khác người ở Kỳ Vân có sức hút tôi. Tôi thích cái thao tác độc đáo tôi lờ mờ nhận thấy trong đầu anh.
Lúc bấy giờ ở an toàn khu, Lý Ban, phụ trách Hoa kiều vụ,giống như một nhà truyền giáo. Cảm nhận do bản năng, tôi không thích ông. Có lẽ vì cái không khí bí ẩn của lò luyện đan tư tưởng Mao Trạch Đông tạo dựng lên quanh nhà truyền giáo không có chút thế tục nào. Cố nhiên tôi phải hỏi cảm tưởng Kỳ Vân. Kỳ Vân nói anh không rõ lắm. Lý Ban hoạt động ở Quảng Đông, vợ Tàu và nói tiếng Việt thua Tàu phá sa
Bờ Hồ. Nghe đâu, anh nói, đã quen biết tướng Nguyễn Sơn lâu nhưng Nguyễn Sơn ghét họ Lý lắm.
Tôi còn muốn hỏi anh chuyện Lý Ban cho Mã Phi “thịt” cô Trinh, nhân viên của Hoa Kiều vụ, nổi tiếng đẹp và giỏi tiếng Anh, xưa làm việc tại đại sứ quán của Tưởng ở Hà Nội. Vì đồn rằng Trinh là mật vụ của Tưởng. Nghe nói khi Mã Phi dưới trướng Lý Ban sắp đâm thì Trinh trật vú ra “hiến “nhưng không mua được Mã Phi. Trong khi Đ. V., cán bộ Hoa Kiều vụ, sau thành nhà văn thì yêu Trinh đã khóc thảm thiết dịp đó.
Thế là Lý Ban còn là một chánh án có bộ máy và quyền thủ tiêu người. Rồi ông là người Việt Nam đầu tiên sang Bắc Kinh chuẩn bị cho việc Cụ Hồ lần đầu tiên với tư cách Chủ tịch nước sang Bắc Kinh. Chúng tôi đều coi ông là người gần gũi Bắc Kinh nhất trong hàng ngũ cán bộ cao cấp Việt Nam, là nhân mối được Bắc Kinh tín nhiệm. Nhưng diện mạo nhà truyền giáo bí ẩn, cao siêu của ông vẫn cứ làm tôi không thích
ông. Toan hỏi Kỳ Vân chuyện” thịt “Trinh nhưng tôi lại thôi.Hình như an toàn khu cần một bầy những linh cẩu, kền kền lặng lẽ dọn sạch những vết tích khả dĩ làm ô uế bầu khí quyển cần được giữ lắng trong của nó. Im không bới chuyện, tôi đã ở trong hàng ngũ linh cẩu, kền kền.Có điều lúc đó tôi không biết máu “đặc vụ” đã chảy ở trong chính hàng phụ mẫu của tôi. Và nhiều phần có vẻ dính đến Lý Ban!
Lúc ấy đâu ngờ mấy chục năm sau, Lý Ban lại mắc tội “thân Trung Quốc!”
* * *
Nửa thế kỷ sau, năm 2000, trong dịp mừng Lưu Động tám mươi tuổi, Hồng Sĩ bạn Kỳ Vân, cũng tù xét lại bảo tôi: - Kỳ Vân nó yêu mày. Mày viết Bất Khuất có chi tiết Thuận đứng đèn mấy nghìn oát mà vẫn chịu được, tớ bảo Kỳ Vân là thằng Đĩnh nói phét. Bênh cậu, Kỳ Vân nói rằng Thuận, tức Tư Móm làm nghề thổi thông phong cho nên chịu nóng giỏi.Kỳ Vân, cảm ơn anh. Tôi nói nhiều đến anh vì anh Mậu Ngọ, tôi Canh Ngọ, tôi cứ ngờ ngợ ở tôi có đôi chút gì na ná ở anh. Đại khái quàng tay còng vào bánh lái cho xe nhào xuống đầm, bất chấp thành bại. Nhưng có lẽ cả là vì không còn gì nữa của anh trên cõi đời này. Các con anh, ba đứa theo nhau chết hết. Thằng Tân, con trai út của anh, kỹ sư xe hơi ở Vũng Tàu tự tử. Hồi nào mẹ nó chết đuối ở Hồng Châu, gần quê Đỗ Mười, nó còn bé, hai bố con anh côi cút; chị gái bé, cái Châu,
sơ tán theo đại học Bách khoa; và Thuận, em gái Thanh niên xung phong hy sinh năm 1966 ở đường mòn, tôi thường đến ngủ với anh - không màn ở ngay đầu cầu thang trời - để xem đêm hôm có gì thì đỡ đần hai bố con. Nay anh hết nhẵn. Còn độc bản lý lịch đóng dấu của Ban tổ chức trung ương. Nó nhợt nhạt quá so với con người anh, dù trong đó ghi anh bắt đầu họat động từ 1936, Mặt trận Bình dân bên Pháp, dù người kết nạp anh tháng 6 - 1940 là Hoàng Văn Thụ, bí thư xứ ủy. Nó chẳng còn ý nghĩa gì nhưng cầm đến nó tôi vẫn
rưng rưng. Như được gần gũi có xúc giác với anh. Chẳng hiểu sao Kiến Giang lại đưa nó cho tôi và tôi thì cứ nghĩ là anh muốn thế! Giữ nó, có lúc tôi ngỡ mình là cái mỹ viện bãi lau giữa suối có thể chăm sóc cho vết nhọ nồi quanh mép hay nét son trang điểm trên quãng đời ngắn ngủi của anh. Những vết gông cùm, những mất mát quá phũ của anh là sẹo hay là trang điểm?
Những dòng viết hơi nhiều về anh ở đây chính là công việc của cái bãi lau mỹ viện săn sóc trông nom cho ước nguyện tự do của anh.Nhưng hơn hết, tôi muốn cho anh hiện lên như tiêu biểu cho một lớp người không hiếm trong đảng cộng sản. Ông nội tri phủ, ông ngọai tri huyện, bố mẹ chủ nhà đất và ruộng nhưng anh khao khát tự do. Đọc thấy con đường mang biển dẫn tới tự do thế là hăm hở đi vào. Rồi nhận thấy tự do này là
nhằm cho lòai người do đó nó phải giam tự do của cá nhân anh vào trong cái lồng tập thể đúc bằng kỷ luật thép mang tên chế độ tập trung dân chủ. Thế là cả cuộc đời liền bị giằng xé
giữa hai thứ tự do đối chọi nhau vô cùng nước lửa… Để không chóng thì chầy tất nhiên đi tới chống đảng, cái tổ chức độc quyền tất cả: bao cấp toàn bộ độc lập, tự do, chính nghĩa, đạo đức, nhân dân, đất nước, chân lý, quy luật rồi miếng ăn, chỗ ở, hôn nhân, ma chay, quyền sống, phận chết đã được đảng thiết kế cho mỗi hạng người, mỗi con người.