Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

CHÙM THƠ TRẦN NGUYÊN MỸ

            Vốn là giáo viên, đa tài Trần Nguyên Mỹ khoác áo tuyên giáo khá vừa vặn, lại xinh nữa. Đùng cái,  về làm giám đốc Trung tâm văn hóa, thể thao.... Anh cũng có tướng ngũ đoản giống tôi, nhưng toàn phải dẫn đoàn quân thể thao to cao đi thi đấu. Hãi thế, và cũng hài thế, nhưng hay đoạt giải cao mới ác liệt chứ! Tạng người được việc, như con dao pha sắc bén thế, lãnh đạo nào chả muốn sở hữu dài dài, nên anh cứ loanh quanh ở huyện Sông Mã... hoài hoài vậy..., 
      Nhưng thơ ( và cả văn) của anh thì đã vượt tầm cấp huyện ngay từ những vần thơ thủa học trò. Bạn yêu thơ ở Sơn La biết đến chàng thơ Trần Nguyên Mỹ ngẩn người " Tẩu Sốp Cộp kin pa/ Pay Mường Và kin  khẩu"  với những xúc cảm tinh tế:..ấm giữa hồn người/ dẫu chưa nên quả cũng lời tin yêu 
 Mấy năm gần đây, dù bù đầu với công chuyện quản lý, sểnh được lúc rỗi nào, con người thơ  trong Trần Nguyên Mỹ lại xốn xang trước những chiêm nghiệm, luận bàn chợt lóe, và ngoáy luôn... Những chùm tứ tuyệt, được ra đời trên đường anh đi vãn cảnh / công cán xinh xinh nhưng hàm súc như những bông hoa bản địa, tiện tay ngắt chơi vui, và tặng bạn bè. Tôi là môt trong những người có hân hạnh ấy.
     Hoa thơm, ai hưởng một mình.
     Vì ý nghĩa ấy, xin trương chùm thơ thi sĩ họ Trần Sông Mã vừa gửi tặng
ĐÀ LẠT

Rừng thông trầm mặc trải bao la
Cao nguyên tươi đẹp ướp hương hoa
`                                  Cổ kính, thâm nghiêm và thơ mộng
Rửa dần lòng tục khách gần xa.

                 Tháng 4.2013

SA PA

Sa Pa rừng núi ngủ trong sương
Gió trộn từng mây rửa bụi đường
Nhấp nhô phố núi lưu hồn khách
Thảnh thơi hồn bạn sáng như gương.

Tháng 10.2013

TAM ĐẢO

Đường lên Tam Đảo xây trên mây
Mấy tầng biệt thự dựa rừng cây
Gió thổi lên cao ngàn sáu mét
Khí xuân se lạnh nắm trong tay.

                                                            Tháng 3 năm 2014
                                                   
                                         NHỚ CHA

Ngồi uống ấm chè lại nhớ cha
Người nhỏ bé mà tinh thần sắt đá
Cha đã từng bơi qua biển cả
Gạt đau thương bước tới bình minh.

Cha đã từng từ bỏ hư vinh
Từ bỏ công danh chọn đường cư sĩ
Thu khí đất trời tu tâm, dưỡng trí
Trồng lúa nuôi con, chữa bệnh cứu nhân.

Cha hòa mình trong ngàn vạn nông dân
Quanh ấm chè quê râm ran thế sự
Người hỏi việc làng,  kẻ thì xin chữ
Cha làm cây đa chim về hót trên cành.

Cha dạy các con theo phép nhà binh
Dám xông vào hang để mà bắt cọp
Dám gieo mầm trên đất cằn toi tóp
Học vấn uyên thâm làm chìa khóa thông đường.

Nếm trải gian truân để biết yêu thương
Đọc vạn quyển hay tìm hồn tinh túy
Học nhân dân để luyện chân, thiện, mỹ…
Cha về chốn bồng lai nay lời vẫn vấn vương !

Cha dạy các con vươn tới bốn phương
Biển thẳm, rừng sâu đều quê hương yêu dấu
Phía trước chờ con đất lành chim đậu
Lập nghiệp tề gia… để xây nước non mình.



Tháng 8. 4,2014



Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Nên chăng???

Đã nghe đâu đó, hệ lụy của việc đổi tên. Người đã vậy, địa danh một làng, một xã, thậm chí một tỉnh... thì sao? Bài viết của TS Phạm Gia Minh, tải từ trang Kim Dung/Kỳ Duyên.
Vấn đề thứ nhất: Lấy lại tên Thăng Long cho Thủ đô nước Việt
 Trong lần đầu tiên đề cập tới ý nghĩa Phong Thủy của tên gọi Thăng Long và Hà Nội [2] tôi đã nêu ý kiến cho rằng theo Ngũ hành thì Thăng Long hay Rồng bay thuộc Thìn, tức là Thổ. Hà Nội nghĩa là bên trong sông, thuộc Thủy. Tên đất nước Việt Nam là nước Việt ở Phương Nam, mà Nam thuộc hành Hỏa. Hỏa sinh Thổ và Hỏa khắc Thủy do đó tên thủ đô là Thăng Long sẽ tạo nên cái thế tương sinhkhiến mọi việc tiến triển thuận lợi, hanh thông, vận nước vững bền.
Ngược lại, Thủy – Hỏa tương khắc làm nảy sinh khó khăn, cản trở, vận nước gian nan, chưa nói tới việc chiến tranh kéo dài. Quả thực, từ khi Minh Mạng đặt tên Hà Nội năm 1831 đến nay mới 183 năm mà đã có tới hơn 80 năm Pháp đô hộ được đánh dấu bởi hàng loạt cuộc khởi nghĩa và kháng chiến kéo dài, gần 30 năm chiến tranh chống Mỹ để thống nhất đất nước và gần đây là năm 1974 đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, cuộc chiến năm 1979 ở biên giới Tây nam và biên giới phía Bắc, rồi TQ đánh Gạc Ma, Lão Sơn năm 1988…
Đó là chưa kể đến tình hình Biển Đông đang nóng lên từng ngày tiềm ẩn nguy cơ nổ ra xung đột do tham vọng thiết lập “đường lưỡi bò 9 đoạn” hiện nay của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Trong khi đó giai đoạn hơn 380 năm thời Lý, Trần với cái tên Thăng Long lại được ghi nhận như một thời kỳ giữ được hòa bình, độc lập dân tộc và thịnh vượng lâu dài nhất trong lịch sử nước nhà, ngoại trừ những giai đoạn binh đao không kéo dài trong 3 cuộc kháng chiến vẻ vang đánh tan quân Tống – Nguyên Mông.
Hơn thế nữa, Hà Nội là địa danh có từ thời Tam quốc ở nước Thục (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) và bên Nhật Bản, vùng Osaka hiện nay vẫn còn thị trấn mang tên Hà Nội với lịch sử dài lâu hơn thủ đô của Việt Nam [2]. Rõ ràng cái tên Hà Nội, dù đã trở nên thân thương với chúng ta nhưng dường như vẫn thiếu tính riêng biệt, độc đáo và cái khí phách hào hùng, mạnh mẽ của một con Rồng đang bay lên, biểu trưng cho một đất nước đang khởi sắc.
Kể từ thời điểm sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội thì ảnh hưởng bất lợi về Phong Thủy lại càng bị khuếch đại lên do Sơn Tinh – vị thần núi trong truyền thuyết dựng nước của tộc Việt, ngụ tại ngọn Tản Viên trên đất Hà Tây nay đã vào cái thế “ bị quây bên trong sông “ do phải nằm dưới cái tên chung là Hà Nội. Nói một cách nôm na thì Sơn Tinh nay đã bị Thủy Tinh vây hãm và trong Ngũ hành thì Phương Bắc thuộc hành Thủy.
Suy ngẫm sâu một chút mới thấy hiểm họa ngoại xâm đối với đất nước đang ẩn chứa ngay trong sự sáp nhập này. Tuy nhiên nếu lấy lại tên Thăng Long (thuộc Thổ) thì Hung sẽ thành Cát và Sơn Tinh càng trở nên bề thế, vững vàng.

Trong bức thư gửi Hội khoa học lịch sử Việt Nam trước thời điểm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ủng hộ ý tưởng lấy lại tên Thăng Long cho Thủ đô nước ta.
Vấn đề thứ hai: Phong Thủy của Tòa án nhân dân Tối cao
rong bài viết đánh giá ảnh hưởng lên môi trường xung quanh của Trung tâm thương mại 19/12 nằm trên phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội (trong dân gian vẫn gọi là khu “chợ âm phủ”) (3) tôi đã áp dụng phương pháp định vị “sao bay” trong Phong Thủy (4) để tái tạo lại bức tranh tổng thể về các yếu tố đang có tác động mạnh (cả xấu và tốt) lên một địa điểm có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia đó là Tòa án nhân dân tối cao.


Ghi chú: Tòa án nhân dân Tối cao nằm trong ô vuông ở chính giữa nơi có các con số 3,6,9.
Sơ đồ “sao bay” cho thấy khách sạn Melia đứng trấn ở phía Đông của Tòa án, tại vị trí sao Thủy số 5 (là sao xấu) lại được gắn thêm khu nhà tầng để xe ô tô có dạng nhiều lưỡi dao cạo xếp song song chĩa sang Tòa án là một điều tối kỵ. Chếch về hướng Tây Bắc nơi có 2 sao xấu là số 2 (Thủy) và 5 (Sơn) lại là khách sạn Tháp Hà Nội (Hanoi Tower) với hình dạng của 2 lưỡi búa rìu nhiều cạnh (khối hình màu trắng ở góc trên bên trái hình chụp của vệ tinh do Google cung cấp).
Có thể nói việc Tòa án nhân dân tối cao bị 2 khối nhà cao tầng có hình sắc cạnh kẹp vào giữa là một vị thế Phong Thủy rất xấu.
Trước khi đàm phán để thu nhận Hồng Kông về với Đại lục, nhằm dành thế áp đảo có lợi cho mình TQ cũng đã chủ động cho xây một cách có tính toán kỹ càng về Phong Thủy cao ốc ngân hàng có hình dáng chĩa cạnh vào lưng của tòa nhà Toàn quyền Vương Quốc Anh tại đây [4].
Quốc gia nào cũng vậy, luật pháp có nghiêm minh thì chính trị mới lành mạnh, kinh tế mới thịnh vượng và xã hội mới yên ổn. Trụ sở của Tòa án tối cao là biểu tượng cho kỷ cương, phép nước theo Phong Thủy. Vậy những người đã cấp phép cho các nhà đầu tư Hồng Kông và Thái Lan (gốc Hoa?) xây 2 tòa nhà có ảnh hưởng cực xấu và nguy hiểm lên Tòa án nhân dân Tối cao liệu giờ đây có thấy tỷ lệ tội phạm trong cả nước đã tăng rất nhiều trong 20 năm qua, số vụ kiện cáo vượt cấp cũng tăng chóng mặt và số án oan sai như trường hợp ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc giang, Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải phòng và vô số vụ khác giờ đây không còn là ngoại lệ?
Tất nhiên không thể đổ tất cả cho Phong Thủy mà cần nhìn vào những bất cập của thể chế, tuy nhiên Phong Thủy có tác dụng khuếch trương cái tốt cũng như phóng đại cái xấu một cách âm thầm và bền bỉ.
Xin nhắc lại một điều mà tôi đã nêu lên trước đây [3], nếu có “diễn biến hòa bình” thì chính cuộc chiến Phong Thủy mới là hình thức diễn biến không tiếng súng nhưng vô cùng mạnh mẽ, sâu sắc, nguy hiểm và nó đã và đang diễn ra trên rất nhiều nơi ở nước ta hiện nay.
Những ai cho rằng Phong Thủy là loại hình mê tín dị đoan vẫn hoàn toàn có quyền bác bỏ những gì tôi trình bày ở đây, nhưng tốt hơn cả là đối với những gì mà khoa học chưa chứng minh được bằng lý luận chặt chẽ thì việc quan sát thực tiễn có ghi chép số liệu thống kê để phân tích nguyên nhân sẽ là thái độ phù hợp nhất hiện nay.

Thăng Long 26/3/2014

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

GÃ ĐẼO GỖ LŨA (Tiếp theo)

-Dào ôi! tưởng gì. Cô ấy xả bớt năng lượng vào thú chơi tao nhã vậy có gì đáng trách mà cuống cả lên?
                  - Không! không phải con Đào làm mà thằng Thiệp ( tên chú phó cả  đẽo luã) bùa(2) đấy, ghê không? Thảo nào con khỉ nợ mê muội, lú lẫn; không biết bao giờ mới gỡ ra được? Rồi hạ giọng thì thầm: Nó toàn ứng tiền trước, gửi về quê cho vợ đã, rồi làm cấn nợ sau, khôn vậy. - Chuyện! Ăn mòn bát thiên hạ, thằng thợ nào cầm dao đằng lưỡi? Em nghi phường đào mỏ. Chứ nhìn lệch lắm, đáng tuổi chị em. Yêu đương nôĩ gì, ba bẩy hai mốt ngày laị không đánh nhau chia của, chia con; em chớ kể! Nó thì có cái gì, môĩ cái gậy thằng ăn mày!
                  Thế rồi, vợ tôi có lo bò trắng răng, nhỏ to gì gì cũng chỉ làm ngọn lửa lòng Đào thêm nồng, thêm đượm. Trả nghiã cho chồng chu đáo xong, nó làm dăm mâm; láng giềng, họ mạc, ai cũng tấm tắc khen được. Rồi Thiệp ở hẳn quán cơm, chỉ giúp ông chủ tôi phần ý tưởng cho mỗi tác phẩm gỗ luã; xưởng mộc như con tầu thiếu hoa tiêu. Đám đàn bà sồn sồn dạo này hay sang quán cô Đào tụ bạ, khi củ đậu, lúc quả sim…Vốn giáo viên văn, sẵn óc khôi hài, bao nhiêu năm buồn bã heó hon, giờ được cởi trói, như các cụ nói, gái phải hơi giai thài lài cứt chó, hỡi nào cô Đào chả phớ lớ tiếu lâm, khiến các mụ nghiêng ngả cười vãi nước mắt, nước mũi. Mấy ông tóc tiêu cũng hay bê bàn cờ tướng sang, dưới tán gốc bàng, nhâm nhi cốc bia cỏ, cùng Thiệp giải thế cờ tàn, đôi khi dự bàn thế sự ảo trên Fây cùng bao người nổi tiếng, khi được "còm", ai cũng thấy mình có tầm phết. Vậy nên quán lúc nào cũng vui rộn ràng.
*            *             *
                  Hôm liên hoan cuối năm, vừa xuất được lô bàn tiệc lũa cho khách sộp đi EU, ông chủ chơi sang, bắt nốc toàn bia cho bõ mấy tháng giời gù lưng ngồi bệt. Gió Lào rần rật khô rang, áo xống dần dần trút hết, thằng nào thằng nấy còn độc cái chíp đeo, không vướng khéo cũng đi, hát hò inh ỏi. Tôi khật khưỡng bước vào toalet giải quyết nỗi buồn, sững người: Thằng Thiệp ngôì đái, kéo vội quần ngố lên. Trời ơi! ngã ba cuả nó bệch như đít ếch, chỉ gồ lên tý mủm thâm sì. Tôi lảo đảo gục vào vai nó. Văng vẳng câu được câu chăng: Ngã ba cô hồn  ...năm 88, …tròn 19 tuổi. Tôi nấc nghẹn.
 *            *             *
                  Đã có ý giấu nhẹm chuyện Thiệp, không cho vợ biết, sợ hội buôn dưa lê rỉ tai nhau phức tạp lắm. Chẳng dè, nàng còn biết trước cả tôi. Có lẽ câu thơ ngày Valetin Thiệp khóc mối tình đầu bí hiểm, hay sự ngờ vực chàng lãng tử là kẻ săn rau, nên vợ tôi về tận quê chuyên chạm lèo, đục bệ để dò manh mối. Không ai khác, là người mà Thiệp nhờ nàng gửi tiền về dạo trước.
                  - Ái chà chà! Ai dám bảo em là cơi đựng trầu nào? Camera cơ à. Ghê thật. Em làm thám tử từ bao giờ vậy?  Thì Enter!
                 - …Lúc đó em còn chưa đến 18, biết yêu gì đâu? Khuôn mặt đàn bà đầy đặn choán hết màn hình ửng đỏ, (chắc lần đầu bị soi gần) nghểnh nghiêng đi lộ cái lúm đồng tiền bên khoé miệng hé cười, dẫu được bàn tay rám nâu vâm váp che hờ. -Duyên quá! Quay nghề phết! Rất đặc tả.
                   -Đêm tân hôn khủng khiếp… Còn hơn dao kiếm. Em khóc thét lên…anh phát hoảng, giật. Gẫy gục. Máu tóe nhòe. Anh đau đớn lăn lộn, em ngất xỉu. Buộc chặt hai đứa vào nhau vậy trong võng, chục người thay nhau khiêng chạy bộ trong đêm đi cấp cứu. Mãi sau này mới biết cái của anh là công trình thử nghiệm nhân đạo, chứ anh đã bỏ phần cơ thể quý giá ấy ở biên giới mấy năm trước cơ. Em bị lơ ngơ, nằm Trâu Quỳ mãi, hễ cứ thoáng thấy anh ấy là lại chết khiếp, ngất đi...
                  - Đây rồi! anh ơi, chị chỗ anh Thiệp về thăm này… Ồn ào, tiếng tắt máy, mở máy, trên màn hình điện thọai hiện lên gương mặt đàn ông trạc ngọai bốn mươi, phúc hậu mà trầm tư.
                  -Hồi ấy, (Tiếng ông ta) Thiệp trở lại trại, bế tắc lắm, nặng trĩu cảm giác tội lỗi với vợ, toan tự tử. Cả trại xúm vào tỉ tê, an ủi động viên. Lính mà, thương nhau cực. Ai chả mong bù đắp tí gì cho nhà em đây này- quá thiệt thòi! Không chết người trai khói lửa,( hát)  mà chết người em gái hậu phương. May làm sao khi em đến viện tâm thần, chống tay nhẩy như ếch, từ giường nọ sang giường kia, lại làm cô ấy cười đành đạch. Cao hứng, em trổ tài trồng cây chuối một tay, tay kia nảy phách như xiếc hài, hai ống quần rỗng gió bay phần phật, lúc phất phơ thõng xuống làm cả lũ ngơ ngơ khoái chí cười ngặt nghẽo. Có đứa đái tồ tồ.( Cười lớn). Khi em về thì cô ấy lại giẫy đành đạch khóc, kéo áo lại.
                   -Thiên duyên tiền định! Thiệp reo lên khi nghe em kể lại. Hai thằng ôm nhau nức nở khóc như mưa trong sung sướng tột cùng. Hắn bắt em tuần nào cũng phải đến thăm cô ấy. Cứu một người phúc đẳng hà sa! Lúc đầu em mới vui vui vì việc làm có ích. Cô ấy tỉnh dần. Rồi dần dà thấy không thể thiếu nhau thật. Em nhỉ? Như gì nhỉ, hồi ấy em bảo nhỉ? Ừ! như ruồi dính "rựa" mít.( Cười rất to)
                  -Thiệp bỏ đi biệt. Anh ấy sợ gặp, bệnh nhà em lại tái phát, nên hơn 10 năm sau, chúng em mới gặp nhau, ríu ran như ông bà Táo thời hiện đại. Chúng em chả đến khổ quá đâu chị, nhưng Thiệp bảo cùng số phận, để anh san chia khó nhọc mới an lòng…Lẽ nào chúng em lại trái ý để anh buồn
.                 -Anh ấy mà buồn (tiếng người đàn bà chen vào) thì em chết đi còn hơn!( tiếng sụt sịt). Em mang ơn bạn gái nào của anh, vì đã /sẽ yêu thương, săn sóc anh ấy thay em…Em nhờ chị …( Khóc nấc, lí nhí không nghe rõ)
                   Im lặng.- Stop!
                   -Em hý hửng mang về, kín kín, hở hở. Thì ra Đào đã biết hết. Biết nên càng tin yêu, càng quyết tâm gắn bó. Em phác một cử chỉ… không ý thì có sao không? Con khỉ nó cười tít mắt, má đỏ lựng: Nồi méo vung méo xoay quanh cũng vừa áp chặt lấy em hôi hổi nóng. Ồ! mà nó mẩy mang ra đấy, thây lẩy oản chùa, chứ không bèo nhèo, lép xẹp đâu nhá. Khoe, anh Thiệp bảo, sướng nhất là được sống với người mình yêu, được làm nghề mình thích. Một điều anh Thiệp bảo. Hai điều anh Thiệp bảo. Mở miệng là thấy anh Thiệp rồi…
                     Đã nghe đâu đó. Chồng là nợ, tri kỷ là duyên. Thật đó chăng?
                        Valetin 2014
     
   (1)   Nữ tu hành (đạo Phật )              

   (2)  Hình, chữ làm mê hoặc lòng người ( Quan niệm mê tín)

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

GÃ ĐẼO GỖ LŨA

                                                                       ( Truyện ngắn)
 Kính tặng thầy giáo, cựu chiến binh P.V.S
          Cái câu" thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ .." thật chẳng đúng tí nào với xưởng mộc mỹ nghệ, tôi làm chân bảo vệ mấy năm nay. Khâu nào cũng máy; gỗ to việc to, bé vào việc bé. Đến dăm bào, mùn cưa còn gom đóng bao để xưởng Ván ép thầu lại, thì đầu mẩu nào bọn thợ cho vào bếp chẳng làm chủ xót? Chết nỗi, hắn lại nể thợ, toàn xúi tôi chẹt họ.
          Vậy mới có chuyện.
          Tối, ới phó cả sang uống nước, cái chính để truyền đạt ý ấy của chủ. Ấm nước siêu tốc phì hơi u ú, điện ngắt cái "pạch" đã nghe tiếng hắn "Bố kệ con!". Còn cách mấy bước chân, hắn nhảo nhanh đến, giành lấy việc xóc ấm, đổ bã, tráng chuyên. Tay hắn thoăn thoắt, rất nhọn, rõ con nhà nòi.
          - Chịu bố thửa được anh móc câu, mốc tuyết, thả vào ấm nghe loong coong như đinh dép rơi trong chai ý. Vâng, nhất ngon bằng mắt, bằng tai, thứ hai bằng mũi...
            - Cậu rắc rôí bỏ mẹ! Tớ không còn con gái để cậu nịnh thối đâu nhá!  Tuy mắng yêu thế, nhưng cũng vui vui. Trước hết là thâý mình có vị, đương nhiên vì vậy mà có thế. Chí ít là nội trong cái xưởng mộc này.(!)
          -Này tớ bảo, trời hanh, gió cả, sợ củi rả., anh em nhãng đi, nhà xưởng toàn tre, gỗ, nhỡ hoả hoạn chết. Ông chủ nhất quyết ngay ngày mai, cấm tiệt bếp củi. Nhá!
          Tưởng gã sẽ cao giọng chê chủ kẹt, nhà giầu chấp con mót, nhưng không; hắn chỉ chép miệng, tiếc không được ăn món khoái khẩu gia truyền. Lại gia truyền, lỡm được tớ chắc. Nghĩ bụng vậy nhưng tôi cứ yên để hắn ba hoa luận về ẩm thực. Quả thật, hắn sành ăn. Đúng rồi, cơm củi, gạo ruộng, lưng lửng soong gang, cạn nước chỉ cần dập lửa, bươi bớt than hồng ra xung quanh; rửa mặt mũi chân tay xong vào dọn cơm là vừa. Mở vung nồi cơm, nghe "eọ" một tiếng và hơi nước nơi vung rơi lã chã, hơi cơm ngào ngạt bốc lên. Đập nhẹ lưng cái muôi trên mặt cơm, nâỷ nghe pinh pịch, đích thị là cơm chín tới, không chê vào đâu được.
          -Ừ, phải nói các cụ ta xưa chúa là thạo ăn, sành chơi. Cơm chín tới, cải ngồng non, gái một con, gà mái ghẹ mà.! Tôi rôm rả hưởng ứng, thì hắn vội xoa tay: " dị bản, dị bản… Xin bố chén nữa, trà ngon quá!... "
           Bẵng đi ít tối không thấy gã sang trà, chuyện, thấy nhơ nhớ; đành rằng, ngày nào chả gặp ở xưởng. Hắn khoe, tốp thợ đã đặt cơm tháng quán cô Đào ngã ba, ăn rất được, lại rẻ. Quan trọng nhất, đôi mắt phó cả ánh lên tinh quái, là mụ nấu cơm chín tới ngày hai bữa, chứ bọn hắn không ăn cơm nồi điện. Nay rằm, chắc được quán khuyến mại chai rượu lộc, nên khuya hội thợ mới ngất ngư dẫn nhau về, líu la, líu lô, tiếng tròn, tiếng méo. Chắc gì cô Đào chứa chấp nổi mươi ngày, cái ngữ khôn mồm, người lính, tính quan âý?
                                 *                 *                   *
               Công bằng mà nói, tốp thợ đục đẽo này rất nghề, chủ ưng ý lắm. Trời ạ! Những mảnh bìa nghiến, lỗ chỗ nu mụn, hang hốc, mới năm ngoái còn là đồ bỏ, dân sơn tràng không thèm chấp, thì năm nay, qua xưởng ông chủ tôi, chúng biến thành những ông Thiềm thừ, ngậm tiền, giữ của, giá năm bâỷ triệu. Huống chi, những cái gốc mới hạ to uỳnh chật cả thùng xe, nhựa ứ đóng quánh nơi rễ mới phạt, từng cục nhờ nhợ đỏ như tiết hồng đào; vài ba ngày sau đã thành những độc bình ngọc nghiến, vân rực rỡ như muôn áng mây ngũ sắc, giá hàng chục triệu đồng một cái. Rôì những gốc cũ như xương xâủ khủng long oan ức ngâm mình bao năm dưới lòng sông, bờ suối, giờ mới được vớt lên cải cát, di hình. Đấy mới là sở trường cuả gã. Ngổn ngang như núi vậy thôi, nhưng mỗi gốc một tác phẩm đã phôi thai, mới nghe sơ, chủ đã sướng rên.
                - Bản thân cái đẹp không phải đã hoàn toàn đẹp đâu ạ! Nó phụ thuộc gu thẩm mỹ từng người; và ngay với một người, không phải lúc nào nó cũng hoàn mỹ, nay ta ưng, nhưng mai sẽ thấy nó thiếu cái này, ngày khác lại ước nếu  bỏ cái kia, nó sẽ chuẩn chỉ hơn!
               - Cậu cứ như triết nhân ấy nhỉ?
                Đaị gia giơ tay cho hắn nhún người đỡ lâý; nhưng hắn quái, không nắm chặt và giật giật như một gã quê mùa. Hắn nắm hờ thôi, kéo nhẹ tay đại gia về phía tay ông chủ. Cả hai ớ người, vội nắm chặt lấy tay nhau và cười; ngượng.
                Còn tôi biết tỏng, cách gã gợi ra cảnh vật. Lúc đứng góc này nhìn chếch lên, khi nghiêng người, hé mắt nhìn xéo xuống, cứ thao thao chỉ chỏ, buộc ánh mắt người xem men men bề mặt lũa gồ ghề để óc tưởng tượng theo.
                - Thấy chưa, sát thủ đầm lầy lim dim giả vờ ngủ đấy, chỉ chờ con báo gấm kia, đâý thấy chưa, sâỷ chân- Chắc chắn sẽ sẩy chân, vách núi dựng đứng thế kia, bám mãi sao không mỏi?- Sẽ kịch chiến thư hùng đúng không? Kẻ còn, kẻ mất. Kiêủ gì chả có phần cho chuá tể vùng trời đang kiên nhẫn kia kià… toạ sơn quan hổ đấu đấy...Chao ôi! Cuộc sống khắc nghiệt lắm nhưng bao dung lắm lắm. Anh/chú nhìn rõ không ạ? Xa xa kia bác tiều thanh thản nghểnh đầu phả khói thuốc lào. Dưới đồng bãi, nhấp nhô nửa người anh chài vung tay lưới...
                 - Chẳng phải nhìn một cái, ai cũng xao xuyến ngay trước vẻ mềm nuột mà gan lì tự nhiên của lũa. Người thợ phải thổi hồn vào, bằng những nét đẽo tài hoa, có khi chỉ tẩy dác đã tôn lên thần thái… Còn  để ra tác phẩm, bố xem công phu vậy. Vâng! Giả nhiều chứ. Nhưng giả đẹp hơn thật ở chỗ có hồn, bắt mắt. Thì y như mấy mẹ sề, tốn cả trăm triệu hút chỗ nọ bơm chỗ kia để hút mắt đàn ông. Vừa nhẩn nha mài gọt, hắn vừa giảng giải.- Như pho Ngũ hành sơn hiểm trở, bâỳ cả năm ở trung tâm sinh vật cảnh tinh, đủ cả thâỳ trò Đường Tam Tạng đi Tây Trúc lĩnh kinh, mấy ai màng?
                Đúng vậy, hắn chuốt lại, vứt ráo mấy ông giống đất nung, lẫn tùng, trúc, cúc, mai nhựa đi, thay vào mấy cọng que xỉn, bỗng thành đồ độc mới oách chứ. Có chăng, cái sáng tạo nhất, đắt giá nhất thì người mua phải về sắm lấy. Đấy là ánh sáng hắt rọi vào, là mầu của các bức tường nhà làm phông. Và bệ đỡ bằng kính xanh cường lực cho lung linh mây nước. Của đáng tội, hắn có xin vài ba đoạn len trắng xanh, giăng mắc loằng ngoằng, rồi bắt óc người ta phải nghĩ là đó là cầu mây, thác bạc. Có khi là thác dải yếm Mộc Châu.(!)
                                                *                 *                   *
                 -Anh à! Trăm phần trăm cái Đào phải lòng thằng đẽo lũa rồi!
Vợ tôi thì thầm, nhưng rành rọt như mũi dùi xiến lỗ nhĩ, làm tôi không khỏi rùng mình. Mấy hôm nay nó cứ thẫn thờ như người mất hồn âý nhá. Vâng! Đúng là em không tin nổi mắt mình nưã cơ? Cứ nhác thấy bóng dáng thằng nọ là mắt nó sáng nhễ, nhìn thủng con ngươi, nom dơ dơ quá . Được nhìn lại một cái nó mới lạch bạch chạy vào buồng thờ, khoanh chân, nhắm mắt ngôì lần tràng hạt, cứ như ni cô(1)  mà có yên thân đâu? Lại hé cửa nhìn một tý nữa mới chịu đựơc. Nó bảo ăn rau răm mãi, đi kiết. Lại nước rau má, với bột sắn dây. Khổ thế! Nhiều khi bức bối ra dội nước rào rào. Vâng, tuổi này, đàn bà con gái ai chả có lúc phát hoả, nhưng mấy ai khổ như nó bao giờ? Hay là đúng... Nó bảo thế. Chậc! Thì nó bảo thế! Là lúc âý mắt hoa đi, nhìn rõ y dáng chồng cười duyên với nó. Vậy nên chị chàng càng căng mắt nưã ra nhìn xem đúng không? Rồi như gái dậy thì ý, ngứa mông, nóng má, rôm sảy chẳng bằng.
                  Đào là vợ chú em cùng quê, thân thiết với nhà tôi như ruột thịt. Chập tối cô mang biếu ấm trà rồi khẽ khàng thưa chuyện. Cứ ngỡ chuyện kia, mâý lần tôi đằng hắng cho ra dáng bác cả; nhưng không. Cô âý hỏi về việc sang nhà mới cho chồng mát mẻ. Ôi dào, đủ thứ bà rằn chứ bỡn. Mấy năm rồi? Ờ nhỉ, năm nào cũng vác răng giả sang ăn giỗ mà quên khuấy. Sạch sẽ cả chưa? thầy nào xem? Đất tìm ưng ý rôì à? Quan quách thế nào? Ngày giờ xem chu đáo chưa, tra lịch vạn sự chả đúng hẳn đâu? Cỗ bàn trù liệu tiềm tiệm thôi. Ừ! đặt ráo nhà hàng cho rảnh tay. Bao nhiêu điêù phải dậy bảo. Cuối cùng vợ tôi lại làm phát ngôn viên: Chú thợ đẽo luã muốn làm việc nghiã lấy khước. Tôi giật bắn người:
                  -Nghiã là nó muốn tắm cho chú ấy hay là chỉ cầm mai, vác xẻng đi theo dây máu ăn phần hử ? Mà chúng mày là gì cuả nhau chưa hử?
                  Cô Đào thường ngày đáo để lắm, tay đôi dáo sào với cả bọn ăn hàng quỵt nợ, nay mới nghe nửa câu tôi quát đã ứa nước mắt: sống với anh chị nửa đời người mà anh nỡ coi em vậy, phải tội với giời.
                 -Thôi thôi, được rôì. Mai tôi xem đầu cua tai nheo thế nào đã nhá!
               Thực chẳng có gì phải lăn tăn. Một tay nó lo hai đứa con ăn học nên người. Dựng vợ gả chồng nơi danh giá cả. Giờ đến lúc nó phải lo thân; con chăm cha không bằng bà chăm ông. Quá hợp lý. Nhưng tôi cứ lo lo. Ừ ! Chẳng thà chúng nó cứ tư tình với nhau, đã đi một nhẽ, thiên hạ chan chan, ai cười? Đằng này, con bé hiền thục, nhẫn nhịn quá. Nó muốn gá nghiã đàng hoàng cơ, nên cứ thâý lo và thương thương. Lấy chồng đâu chỉ được bốn năm năm nó hạnh phúc thực sự, hồi ấy nhiêù cặp phát ghen. Chồng lái xe đầu Zin đít ca tuyến Sông  Mã-Sốp Cộp, chẳng chuyến nào vơi khách. Vợ gíáo viên cấp 2 ngay thị trấn, chẳng phải đèo cao, suối sâu như các cô giáo xuôi lên cùng đợt. Năm sau, đẻ một lứa, hai thiên thần đái đứng đẹp như tranh. Hạnh phúc thật tràn trề, ai bì kịp? Thế mà, đâu ngờ, thằng chồng sướng quá, hoá rồ, bập nghiện, ngày càng nặng. Bị đuổi việc, vật vờ, dặt dẹo đấy nhưng nó đánh vợ như chảo chớp. Chính quyền bắt đi cai vài ba bốn bận, có lần hàng năm, về đâu laị vào đấy. Khổ. Đận sau cùng nó quyết tâm sắt đá lắm, cho xích chân tay vào thành giường, ăn ỉa taị chỗ. Đâu hơn 6 tháng, không thâý đập phá, tưởng chắc ăn rồi, không xích nữa, chỉ khoá cưả ngoài, thâý cũng êm êm; mấy tháng nưã, trơn lông đỏ da, nom như thư sinh, ai chả mừng. Rồi thề nước, thề non, vợ thương mở khoá ra cho đỡ quầng chân, vài ngày sau, ẳm trộm vợ ít tiền, biến mất tăm. Người nhà chỉ biết tin khi nó sốc thuốc, không gỡ được.
           Hai con lúc âý đang tuổi ăn học, vất vả tốn kém biết bao nhiêu mà kể.
           Khổ nhục từng ấy, còn chiụ được, bây giờ mát mặt tý rồi, sao không cam phận nốt, Đào ơi! Thầm nghĩ thế rôì bỗng nhớ laị, cái lần xoay xoay chén trà mãi trên tay, gã thợ gỗ lũa trầm ngâm luận với tôi câu tục ngữ, về sự ngon môĩ nơi một khác. Hắn nhất quyết cho rằng gái đoạn tang mới là đáp án. Vì sao nó hay hơn, đúng hơn gái một con ư ? Phải trải đời lắm, tinh tế lắm mới biết. Tôi đâm sợ gã. Sành sỏi tình trường qúa, sợ khổ con Đào!
*           *          *
               Vợ tôi lượn đâu về, dáng vẻ nghiêm trọng lắm, hỏi anh có biết hôm qua là ngày gì không?
            - Ờ Tết Nguyên tiêu, nhà mình chả hương khói nghiêm cẩn còn gì?
             -Âm lịch, âm lịch. Dương lịch cơ! 14 tháng 2, ngày gì, anh biết không? Tôi thật thà lắc đầu.
 - Chắc lịch có ghi, nhưng không xem, ngày gì mà như mất sổ hưu không bằng?
          - Ngày lễ tình nhân. Phú qúy sinh lễ nghiã đã đành, vừa nghèo, vừa già cóc đế rồi còn bày đặt. Là con Đào ấy. Anh xem đây này.
                      Tờ giấy ôly học trò, ngay ngắn chữ cô Đào:
 BÇn thÇn nhÊm nh¸p vÇn th¬
§¾ng cay th¸nh thãt thÊm tê giÊy trinh
Lßng ta miÕu l¹nh nhang ®Ìn
Xin th¬ lµ n¾ng r¹ng lªn mÆt ng­êi

Valetin xxxx

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Than ôi ! SỰ THẬT Ư ?

        Sự thật là ngày 17/2/1979 Trung Quốc bất ngờ tung 60 vạn quân, ồ ạt xâm lược nước ta, gây bao nhiêu đau thương tang tóc. Lịch sử đang đòi hỏi sự thật đó phải đưa vào sách giáo khoa phổ thông để mọi người dân Việt Nam  nhớ, để các thế hệ con dân Việt Nam hiểu.
        Trang Bọ Lập có đưa một bức ảnh.  Ai xem mà chả Rụng rời cả tứ chi?
        Có phải gò Đống Đa ở Sa Pa đó chăng? Nhưng sao lại tôn vinh họ là Liệt sỹ?
         Phải chăng, họ( người Tầu) theo ta chống Tầu?
         Nóng lòng chờ xem thực hư?




          Muốn lên lại Ô quy hồ quá! Một buổi tối vắng khách, năm 2010, ông chủ quán trọ ở thị trấn Sa Pa đã kể tôi nghe, rùng rợn lắm, ngay đầu nhà (mà đêm ấy tôi nghỉ lại) là xác mấy đồng bào ta bị bọn Tầu xả súng; dân chạy tán loạn, đành bỏ mặc.! Hôm ấy, tôi cũng bạo mồm hỏi ông có nhìn thấy thằng Tầu nào bị ta bắn chết ở Sa Pa này không? Ông ngậm ngùi lắc đầu!



Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Con ngựa già của chúa Trịnh

Đón xuân Giáp Ngọ, Nguyễn Xuân Diện -Blog Tễu- tìm và giới thiệu truyện ngắn khá hay của nhà văn Phùng Cung, viết năm 1956.


                         
 Xin rước về để cùng xem!
Phương-Lộ là một làng nhỏ hẻo lánh, nằm lọt trong một thung lũng phía Nam chân núi Tản, cách chợ Đan-Lâm chừng bẩy dậm. Từ Đan-Lâm vào Phương-Lộ, trên con đường đất mòn, ngoằn ngoèo men theo dòng suối phải qua một chiếc cầu bằng đá vắt ngang suối, bên cạnh một ngôi đền nhỏ. Trong làng có lão già họ Nông, hai đời chuyên nghề buôn ngựa. Ông cụ sinh ra lão ngày trước là mã phu của triều Trần; khi mãn lính, trở về làng làm nghề buôn ngựa. Năm mười bốn tuổi, lão đã theo cha ra chợ Đan-Lâm học nghề. Lớn lên, lão đã nổi tiếng khắp vùng về môn xem tướng ngựa.

Lão Nông có con ngựa trắng, mình kim, lông trắng như bông, lại lấp lánh như có nạm kim cương, nên lão đặt tên nó là Kim-Bông. Lão thường khoe con ngựa này lão tìm mua được từ lúc nó chưa phát nha ở tận miền Nước-Hao. Lão đã từng đi nhiều nơi mà chưa thấy có con nào tướng phách toàn-mỹ như nó; có sức vượt hàng nghìn dặm với cái thể "cao đầu phóng vĩ" của nòi ngựa chiến.

Từ khi con Kim-bông bắc yên, ngày ngày lão cưỡi nó đi các nơi để buôn ngựa. Hàng năm những cuộc đua ngựa miền này, không cuộc đua nào vắng lão. Không cuộc đua nào con Kim-Bông không đoạt giải nhất. Từ đó tiếng con ngựa hay, mỗi ngày được truyền rộng ra khắp nơi và lọt đến tai chúa Trịnh.

Thuở ấy chúa Trịnh đang cần tuyển mộ một đoàn kỵ binh để bình định đất nước, nên liền ủy một viên quan hầu cận, tìm đến tận nơi hỏi mua.

Lão nông tuy luyến tiếc con Kim-Bông, nhưng nghĩ đến cái tài của nó lão sẵn sàng trao lại cho viên quan mà rằng :"Con ngựa của bần dân thuộc loại quý mã, là vật, nhưng nó hiểu tiếng người. Bấy lâu nay nó sống với bần dân ở nơi sơn lâm hẻo lánh này, ăn cỏ núi, uống nước suối, tài nó có mà không được dùng, thật lòng bần dân cũng tiếc cho đời nó lắm! Nay chúa công lại cho vời nó về chốn triều đình để dùng nó xông pha chiến trận, bần dân cũng được hả dạ vì đã làm vừa ý con quý mã và cũng bõ công nuôi nấng tập luyện". Lão Nông miệng nói tay trao cương cho viên quan. Con Kim-Bông cũng dỏng hai tai gật gật cái đầu như biết mình sắp được từ giã cảnh sơn lâm hiu quạnh, để về vùng vẫy chốn kinh thành.

Trên đường về, viên quan hết lời khen ngợi con quý mã; Kim-Bông phi như gió, giả lại đàng sau những đồi núi, cây cỏ hỗn độn của vùng Sơn Tây. Chỉ trong nửa ngày đã về đến Thăng Long.

Viên quan vào tâu với chúa Trịnh, hắn tả lại tướng phách cùng nước bay, nước kiệu của con ngựa. Chúa Trịnh lấy làm toại nguyện, và truyền cho các tướng tá chọn ngày mở hội đua để kén ngựa chiến.

Một buổi sáng, trên các ngã đường, nhân dân các vùng lân cận nghe tin, lũ lượt đổ về xem như nước chảy. Hàng nghìn ngựa tốt từ các nơi đem về được sắp hàng tề chỉnh bên cạnh những kỵ binh nai nịt gọn gàng. Con Kim-Bông ngơ ngác trước quang cảnh mới lạ, lòng nó rộn ràng, mắt nó đăm đăm nhìn thẳng phía cuối đua trường như để dương oai với đồng loại, nó nín hơi, tóp bụng, cất tiếng hí dài, lanh lảnh nghe sởn óc. Người kỵ binh đứng bên cạnh, bỗng né sang một bên, lao đao tưởng ngã. Bọn ngựa trố mắt nhìn Kim-Bông và cũng cất tiếng hí theo

Sau ba hồi trống lệnh, các kỵ binh lên yên, ra roi, bắt đầu rời vạch. Đoàn ngựa lồng lên trong bụi lốc mịt mù, những miếng đất bắn ra tứ phía như mưa rào, nhân-dân reo hò vang dậỵ Chỉ trong chớp mắt, con Kim-Bông đã vượt lên hàng đầu, vừa hí, vượt lên, chân trước khoăm lại như móc sắt, đuôi bay như giải phướn, tưởng như chân nó không hề chạm đất. Ở phía xa người ta nhìn nó chỉ còn thấy một bóng trắng lấp lánh, oằn lên, oằn xuống như một con rồng trắng uốn khúc. Nó bay tới phía nào là tiếng reo hò phía ấy vang lên không ngớt. Hằng loạt ngựa thấy sức mình không sánh kịp con Kim-Bông, bỏ dở cuộc đua, đứng dừng cả lại, hí hí nhìn theo cái bóng trắng nhỏ dần trong bụi nắng lòa của kinh thành. Khi dứt hồi trống, con Kim-Bông dừng lại, tai nó ù đi vì tiếng reo hò ca ngợi của xung quanh, nó càng nức lòng, chân nó dậm xuống đất cồm cộp như muốn bay thêm hàng nghìn vòng nữa mới phỉ sức.

Khi tiếng trống lệnh chuyển sang phi nước kiệu, con Kim-Bông rời vạch một cái, là bốn chân nó băm liền trên mặt đất như guồng nước, tiếng chân vỗ rồn rã như mõ đổ hồi, đuôi trải ra trắng như một dòng nước chảy xối. Nó chạy hết một vòng mà trên lưng nó một kỵ binh bưng một bát nước đầy, bát nước không sánh ra ngoài một giọt. Lúc này nó thấy tất cả đua trường đều hướng nhìn về nó, trầm trồ ca ngợi tài nó. Nó lại hí lên một tiếng thật dài kiêu hãnh.
Sau cuộc đua này, nó được cả đua trường tặng danh là "Bạch long Thiên-lý-mã" và chọn làm mẫu mực để luyện tập cho cả đoàn ngựa chiến của triều đình. Cho nên chẳng bao lâu các đồng loại của nó cũng trở thành những chiến mã lành nghề. Và từ đó nó cùng bầy ngựa chiến xông pha chiến trận, trải nhiều trận vào sanh ra tử. Nó nhớ nhất là trận quần chiến bên bờ sông Gianh. Thế địch mạnh, quân địch đã thắt vòng quanh nó, nhiều đồng loại nó đã phơi thâỵ Nó gắng hết sức mạnh, vùng lên như hổ đói, phá vỡ vòng vây, hạ thủ tướng địch, giành toàn thắng. Sau trận này, nó được chúa Trịnh chọn làm mã lệnh và được vào ở trong phủ Chúa.

Chúa Trịnh truyền cho quân lính, xây một chiếc hồ bán nguyệt, phía Nam vườn Thượng-uyển, để làm chỗ tắm cho mã lệnh, và cử hai mươi mã phu ngày ngày trong nom săn sóc ngựa quý của Chúa.

Lần đầu tiên con "Thiên lý" đặt chân tới Hoàng-cung. Trước mặt nó toàn những lâu đài nguy nga tráng lệ, trông phía nào cũng thấy vàng son chói lọi. Dưới chân nó toàn những đá xanh nhẵn bóng. Những cảnh vật mới lạ khiến nó sợ hão. Nó toát mồ hôi, run lên cầm cập, khi đặt chân lên những phiến đá hoa, được dịp đưa mắt nhìn hai hàng thị vệ tả hữu, đứng cắp gương trần bên hành lang. Nó rụt rè, co cổ lại khi mã phu dắt nó vào mã đài, nó tưởng mã phu đưa nhầm nó vào nơi ở của một tướng lỉnh.

Con Thiên lý được vào ngự hẳn trong mã đài ngày ngày chỉ ăn và tắm. Mỗi buổi chiều nó phải đứng một chổ để dăm bảy mã phu mang kéo tỉa từng sợi mao, vuốt ve từng chiếc lông đuôi. Nó càng cảm thấy bận bịu, tù cẳng. Nó bắt đầu mơ ước những cảnh sống khi còn ở bên ngoài cung cấm: "Ôi chao! Còn đâu những buổi sáng ta cùng đồng loại trên đua trường hàng vạn người ca ngợi tài ba? Với cái sức khỏe bay hàng nghìn dặm, với cái thể "cao đầu phóng vĩ" hùng dũng như ta, đã bao phen sông pha trận tuyến, đời ta tù túng như thế này thì ta sống sao được? Sao Chúa không cho ta được đem tài ra vùng vẫy trên chiến trường? Hay Chúa đã quên ta là kẻ có tài ?".

Một buổi sáng, nó đang đứng trong Mã-đài, hai con mắt đăm đăm vọng ra ngoài bức thành cao ngất, nó bỗng thấy một mã phu nai nịt gọn ghẽ, khác ngày thường, đến giắt nó ra đứng dưới mái hiên, phía tả hành lang. Nó sững sốt, tưởng phen này lại được xung trận. Một mã phu khác trải lên lưng nó một tấm gấm điều, xung quanh thêu kim tuyến. Nó ngoái cổ lại, bỗng thấy mình đẹp như phượng hoàng. Hai mã phu nữa mang đến đàng sau nó một vật gì vuông vắn giống như một nhà lầu, gấm vóc xanh đỏ phủ quanh. Một mã phu nữa mang cương đóng vào gáy nó. Bộ cương quý giá và đẹp đẽ làm sao? Đời nó chưa từng thấy. Hàm thiếc bằng bạc: hai đầu nạm vàng sáng lóe. Nó sung sướng gục đầu xuống nạp hàm thiếc một cách ngoan ngoãn. Khi mã phu buông tay: lạ lùng lắm, nó thấy hai vật gì to bằng hai cái lá đa che ngang hai bên mắt khiến nó chỉ có thể nhìn thẳng phía trước mà thôị Rồi một mã phu đẩy nó lùi lại, đứng giữa hai càng gỗ sơn son thếp vàng. ủa lạ quá chừng, những cái gì mà đẹp thế này? Ta sẽ làm gì đây? Nó rùng mình, thấy hãnh diện như được sống một kiếp sống khác, sung sướng hơn trước.

Bỗng dưng hai càng gỗ dúi mạnh một cái, cổ nó bệt xuống, miệng nó gần chạm đất, nó vừa ngóc được lên thì giây cương đã ghìm thẳng. Nó cất bước thấy nặng; cái nặng quái gở, như bóp nghẹt lấy cổ, có lúc bềnh bồng nhẹ đi một chút, nhưng rồi gáy nó càng như lún xuống. Nó phải cố lấy gân bốn vó mới giữ được cái thế đứng đường bệ. Rồi bỗng có một ngọn roi da quất nhẹ vào mông, nó cắm cổ đi. Khi nghe tiếng bánh xe nghiền trên mặt đá, nó mới biết là nó đang kéo xe cho chúa.

Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt nó lờ đờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán.

Nhưng chẳng bao lâu, những chậu thóc trộn mật vừa ngọt vừa bùi, những bó lá trúc quân-tử vừa thơm vừa giòn sậm sựt đã cùng những buồn tủi sầu muộn, cùng những ước mơ trôi qua ruột, tống ra ngoài trả lại cho quá khứ. Con thiên-lý dần dần quen với chức vị. Nó thấy mình phải phò Chúa cho đến hơi thở cuối cùng mới xứng danh Thiên-lý-mã.

Trong những buổi chầu nó thấy hàng trăm đôi hia, ủng và đủ các loại ống quần, tà áo, văn có, võ có, lướt đi lướt lại trước mắt, nó càng thấy chức vị nó to tát ghê gớm! Chốn thâm nghiêm cung cấm nào mà chân nó không bước tới? Có việc quốc-sự triều-đình nào vắng mặt nó? Nó đi đến đâu cũng thấy người chấp tay khấu đầu tung-hô Vạn-tuế. Đời nó quả là đã sang một bước đường hiển hách, hơn tất cả những lúc oai-phong chiếm giải đầu trên các trường đua.

Một buổi chiều, trên cổng thành đã nổi trống thu không, mặt trời đã khuất hẳn mái lầu tây, mặt hồ đã gợn lên một mầu đỏ nhạt của ráng chiều, nó sung sướng kéo Chúa cùng Bà Phi đi ngoạn cảnh. Đi chẳng cần đến đâu, nó được đôi lúc thong dong đứng lại, soi bóng dưới nước. Chà! mắt nhìn mặt, ta uy nghi lộng lẫy đến thế này ư ? Kìa hai lá đa che mặt ta có khác gì hai cánh mũ của vị đại thần? Hai càng gỗ khác gì tay ngai ngày ngày Chúa vẫn ngự! Phải chăng giời đã an bài cho số phận ta! Nó càng nhìn càng thấy bóng nó dưới nước to ra, to mãi, uy nghi trong sắc nước lẫn sắc trời.

Nó đang say sưa ngắm bóng bỗng giây cương lại giật mạnh. Mép nó găng thẳng ra, nó lại bắt đầu cất bước. Xe tới đầu vườn thượng-uyển, có lệnh dừng lại. Tức thì hai bên tay ngai dìm mạnh cổ nó xuống rồi lại bềnh lên nhẹ bổng. Nó vừa ngóc đầu lên thì một luồng gió mát, lướt đưa vào lỗ mũi nó những hương thơm ngào ngạt của muôn hoa. Nó phồng hai cánh mũi hớn mặt lên thì gấu xiêm mầu thiên-thanh của Bà Phi phất nhẹ qua mặt nó. Nó cảm thấy một vị thơm đầm đậm. Nó đưa mắt nhìn theo chỉ thấy từ ngang lưng trở xuống của Chúa và Bà Phi. Gió hồ lồng vào vạt áo Chúa và giải xiêm Bà Phi, làm căng phồng lên và đú đởn múa may trước mặt nó. Nó cảm động, đứng ngẩn ra, hai mắt dương thao láo: "Chà! Thật là ngoạn mục! Ôi! Giời đã ban cho ta đôi nhãn ngọc để riêng ta được nhìn những vưu-vật của trần-gian, ta đội ơn Trời".

Càng nhìn theo càng thấy ngoạn mục, nó càng thấy hối hận với những sự việc ngày trước. Nó dậm chân xuống đất cộp cộp mắt nó nhắm lại, đầu nó đập vào hai càng xe như để nhận lấy một hình phạt xứng đáng với tội lỗi của mình. Vừa đập dầu vừa kể tội : "Tội thứ nhất là khi chưa vào phủ Chúa ta đã để cho Chúa và Bà Phi phải vất vả khó nhọc biết chừng nào! Tội thứ hai: Sao ta dám đem một việc nhỏ bé tầm thường so sánh với chức mã lệnh đáng tôn kính của Chúa đã ban cho như thế chẳng phải trước đây ta đã phụ ơn Chúa hay sao? Tội ta thật là đáng phanh thây mới phải. Nếu ta chỉ nghĩ đến cuộc đời phóng khoáng, chỉ nghĩ đến những lúc cùng đồng loại đua tranh, thì lấy ai để cùng Chúa gánh vác giang sơn, làm cho trăm họ được an-cư lạc-nghiệp! Ơn hưởng lộc Chúa, sức ta ngày một cường tráng, thì cái vượt hàng ngàn dậm đối với ta cò gì đáng kể".

Sống một cuộc đời lặng lẽ trong phủ Chúa, bằng sự kiêu hãnh với chức mã lệnh, chẳng bao lâu trên bờm, mao con Thiên-lý đã trồi lên một lớp lông vàng sòe. Trước mã đài nó đã nhìn thấy những cây cảnh bao lần đổi lá. Nhưng nó không biết đời nó đã chuyển dần về già. Tài nó cũng đã mòn mổ. Nó vẫn tưởng nó còn sức chạy dư ngàn dậm.
Có một buổi sáng, nó được kéo xe để Chúa cùng Bà Phi ra ngoạn cảnh ngoại thành. Từ ngày vào phủ Chúa, lần đầu nó được đi ra ngoài. Nó ước ao được thăm cảnh cũ. Xe ra khỏi phủ Chúa, bon bon trên con đường đất rộng thênh thang. Nhìn thẳng phía trước, nó lấy làm lạ, nó kêu í í trong cổ như tự hỏi: "Làm sao con đường này ngày xưa rộng mà nay nhỏ bé như thế này!". Đi được một quãng nó nhìn lên phía trên, lại dừng lại tự hỏi: "Ô hay, ngôi chùa kia, ngày xưa rõ ràng nằm bên cạnh một quả đồi lớn, mà bây giờ lại nhỏ bằng con đường ta đang đi là nghĩa làm sao?". Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một con dường thẳng.
Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến mầu giời xanh cũng chỉ thu nhỏ lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc lá đa che hai bên mắt chỉ cho nó nhìn được một chiều. ... Xe đi mãi. Lúc gần đến một thao trường, nó bỗng nghe tiếng hí của đồng loại. Tự dưng nó hớn hở : "Chắc các chú em bao lâu không gặp ta, sẽ khấu đầu chúc tụng ". Vừa nghĩ nó vừa cất nhanh bước. Xe vừa tới thì đồng loại nó cũng nhảy bổ đến trước mặt nó, miệng hí chân cất tiền, cất hậu như chê bai nước đi và tướng mạo của nó. Nó tím gan, hí lên một tiếng như để quở mắng: "Bọn nhãi kia, tội các chú đáng chặt đầu làm lệnh! Các chú không biết ta là ai ư? Đã quên tài của anh đấy rồi sao?". Tất cả đồng loại nó, nhe cả răng, và í í lại trong cổ: "Chúng tôi biết bác lắm, biết bác ngày xưa là kẻ có tài nhưng bây giờ chúng em nhìn qua đã thấy bật cười về tài của bác. Thôi bác ạ ! Đững khoe tài nữa, chúng em đây ngại bác không rời được khỏi cái xe của Chúa! Rời ra thì thóc kia trộn mật ai ăn ?".

Con Thiên-lý uất lên, muốn thoát khỏi xe xông thẳng ra ngoài để tỷ sức, nhưng trên xe lại giật cương. Nó bực lắm nhưng cũng phải cắm đầu đo. Vừa đi vừa nghĩ : "Những kẻ ngu si hèn mạt kia, ở đời này bay chỉ nhìn có một chiều. Bây không biết được ta làm đây dể mấy kẻ đã làm được! Sức bay được mấy nả mà vội kiêu ngạo, bay chạy được vài dậm đã phờ mao sều dão. Rồi đây ta sẽ cho bay biết tài ba!".

Và hình ảnh một trường đua gió lộng, bụi cuốn, cờ bay, bỗng hiện ra, như thách thức. Con Thiên-lý-mã vẫn tin mình còn đủ sức phi lên hàng đầu.

Sự đời biến đổi. Sau đó ít lâu, chúa Trịnh được tin nhiều tướng tá thua trận ở bên bờ sông Gianh. Chúa định thân chinh đi, nên truyền cho viên tướng trông coi về kỵ binh mang mã lệnh ra đua trường để ôn dượt trước khi xung trận. Viên tướng liền cúi đầu tâu lại: "Muôn tâu Chúa-công, hiện nay trong triều-đình thiếu gì ngựa chiến có dư sức vượt hàng nghìn dậm, và đã từng dự trên dưới một trăm trận. Xin chúa-công để tiểu tướng được chọn dâng một con mã chiến có sức khỏe vào bực nhất. Còn như con mã-lệnh, cứ nên để nó kéo xe; vì từ khi đem nó vào phủ Chúa, nó ăn thì nhiều, lại không hề luyện tập, tài nó ắt không được như trước. Nếu chúa-công dùng con mã lệnh để ra trận, tiểu tướng áy náy lắm!".
Nghe tâu trình, chúa Trịnh cũng thấy viên tướng là có lý, nhưng chúa vẫn còn tin ở tài con mã lệnh, Chúa bèn hạ lệnh cho mang con mã lệnh ra tỉ sức cùng các chiến mã khác để tiện bề kén chọn.

Con Thiên-lý-mã được dịp rời phủ Chúa ra đua trường. Hai cái lá đa đã được cất đi. Nó bàng hoàng nhìn giời, nhìn đất, mắt nó hoa hoa,. đầu nó choáng váng. Cảnh vật như quay chong chóng, cây như mọc ngược, núi như đổ xuống. Vừa gặp đồng loại một cái, nó cố dóng hai tai tóp bụng lại lấy hơi hí một tiếng để dương oai. Nhưng tiếng hí của nó vừa ré lên thì cụt lủn như vật gì nút lấy mõm. Các đồng loại của nó cũng nhe răng ra cười rồi cùng cất tiếng hí làm cho nó càng uất. Không chờ tiếng trống lệnh, nó đã lồng lên, tức thì các đồng loại của nó cũng bỏ rạch vượt theo. Tiếng trống liên hồi, con Thiên-lý càng cắm cổ chạy. Nó đã tưởng mình thắng cuộc, nó đắc chí ngoáy đầu lại thì bọn ngựa chiến đã tới sát đàng sau. Chỉ trong chớp mắt nó bị tụt lại Không chịu, nó càng lồng lên. Bổng nó thấy nhói một cái ở trong ngang bụng như bị một nhát gươm chém mạnh nó ngã vật xuống, vùi đầu trong bụi lốc của đàn ngựa bay qua, nó biết là đứt ruột, không thể sống được. Nó gắng mở to hai mắt, rên lên một tiếng như nói rằng: " Tiếng tăm lừng lẫy của ta chỉ có thể chết ở chiến-trường. Nhưng, than ôi ! Bãi cỏ này cũng là bãi chiến-trường, chết thế này cũng là chết vì giang sơn, vì Chúa ! ".

Trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết sức tàn, ngốc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng thẳng hai chân sau, chừng như để cố giữ lấy cái thế "cao đầu phong vĩ".

Hà Nội 10-1956

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

CHOÁNG

Được ngày nắng đẹp, giấc trưa, Hồng Bắc, phó/ trưởng ban QLDA huyện Vân Hồ, tình nguyện làm "xe ôm" đưa mình sang nông trang chè Nhật Bản, vì biết cách đây hơn 10 năm mình có tham gia thiết kế và thi công nhà ở/nhà xưởng của Công ty này. Chuyện dài, lúc nào rỗi xin kể hầu chư vị, ly kỳ phết! Tiếc là không gặpKatanô, hồi ấy có lần nói vui" Ối đứa con gái Việt thích tớ làm chồng 2 đấy!"…
          Cô Ngà, nhân viên đưa Bắc và mình thăm xưởng chế biến, khoe rằng, chúng em chưa phải sửa tý gì, kể từ ngày sử dụng! Được khách hàng khen kể cũng … mát mặt tý. Nhưng …….
Sướng nhất là được đứng giữa đất trời của ta… mà ngắm chè của Nhật xanh ngút ngát, mát cả lòng,

               Mới biết, vài tuần mới cần làm cỏ một lần bằng tay. Thu hái bằng máy. Đây là máy "là" ( Xén lại) cho phẳng, và một máy cắt cành đâm ngang ra rãnh nữa .

Tự nhiên thấy thương cho cây dâu. Cái hồi  phong trào " cây gì, con gì? được đưa từ đồng bãi Thái Bình lên, èo uật vài năm, lạ thổ nhưỡng, chết yểu. Ông Yasuda, chớp thời cơ xin thuê luôn.
                                                           Ồ! Người Nhật khôn thật!
                         Cả vựa chè, chỉ 3 người quản lý với chừng vài ba chục người làm công nhật khi cần, cô Ngà nói:" Hiện công ty vẫn Lỗ- Hậu đầu tư mà !". Mình cười nháy mắt với Bắc" Ừ! Lỗ kiểu Côcacôla!"

                                                     Trời ơi!  Nghe mà choáng!