Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

NGẪM NGỢI

Posted on 16.05.2012 by nguyentrongtao





 
i

Rate This
NGUYỄN ĐỨC GIAO
NGẪM NGỢI TỪ MỘT ĐÁM MA
           Thân gửi Nhà thơ Trần Đăng Khoa
Vẫn biết nghĩa tử là nghĩa tận nhưng mỗi lần đi đám tang của công chức hoặc người nhà của họ trong những năm gần đây vẫn cứ thấy thế nào ấy. Sự thương xót, tiếc nuối hình như ngày một vơi đi, mà sự chiếu lệ, vờ vĩnh, toan tính thì ngày càng hiện rõ trên khuôn mặt của những người tham dự. Sáng nay đi viếng đám tang của Sơ, người cùng cơ quan, tôi vừa buồn cho người đã khuất, vừa buồn vì cảm nhận này càng rõ. 
          Cách đây hai hôm, nửa đêm tỉnh giấc vì tiếng chuông điện thoại. Anh Trưởng phòng thông báo với giọng thảng thốt: “ Anh Sơ mất rồi, anh đã biết tin chưa?”. Sao lại thế? Vừa uống rượu với nhau lúc tối đây mà. Hội nghi tổng kết công tác của ngành bế mạc lúc chiều. Anh em điếu đóm phục vụ phấn khởi vì hoàn thành nhiệm vụ, được Bộ trưởng biểu dương nên tổ chức bữa cơm thân mật ngay tại nhà ăn phục vụ Hội nghị. Anh Sơ là Vụ trưởng, lại là người biên tập lần cuối Báo cáo tổng kết được Bộ trưởng dõng dạc đọc trước Hội nghị sau nhiều lần do nhiều người viết đi viết lại không thành. Vì hứng chí, phấn khích nên anh uống hơi nhiều cả rượu lẫn bia. Có lẽ vì vậy chăng? Cũng cần nói thêm anh Sơ là một ứng cử viên nặng ký trong lần chuẩn bị bổ nhiệm Thứ trưởng lần này. Ôi thôi! Thế là hết! Hết cả sự kèn cựa, tranh giành. Hết cả sự nhờ vả, cầu cạnh. Chỉ còn lại những người lãnh cảm, thờ ơ.
          Chợt nhớ lại bài thơ Đám ma bác giun của Trần Đăng Khoa mà mình thuộc từ ngày còn bé khi Tập thơ đầu tay Góc sân và khoảng trời của Khoa vừa ra đời, gây xôn xao trong dư luận. Xin lỗi anh Khoa: tôi chỉ thích bài này theo nguyên tác ngày xưa anh viết. Bản anh chỉnh sửa sau này là từ góc nhìn của người lớn, làm thay đổi ít nhiều chất ngây thơ, hồn nhiên của con trẻ. Mà lạ thay anh Khoa ạ: tôi cứ nghĩ là với bài thơ này theo nguyên tác, anh đã mô tả, đã chỉ đúng và sâu hơn cái không khí, cái chất, cái hồn của các đám tang công chức thời nay. Này nhé:
Bác giun đào đất suốt ngày
Trưa nay bỗng chết bóng cây sau nhà
          Thế là bác giun đột tử vì làm việc quá sức, chắc vì lao lực. Thì đúng rồi như anh Sơ của chúng tôi đây suốt đời tận tụy, càng phải tận tụy vì anh vốn xuất thân trong một gia đình công giáo. Tận tụy cho đến khi chết vì bản báo cáo mà không kịp trăng trối một lời với vợ con, bạn bè. Nhưng mà cũng có niềm an ủi là anh đi mát mẻ, nhẹ nhàng như bác giun chết dưới bóng cây chứ không phải dưới cái nắng chang chang chết cả cá cờ mà Khoa đã tả.
          Bác giun chết, thế là lũ kiến kéo ra làm thịt bác nhưng vì anh Khoa thương bác, nên anh cho là chúng đi đưa tang bác. Thật là nhân văn mà cũng rất trẻ con.
Họ hàng nhà kiến kéo ra
Kiến ông đi trước, kiến bà theo sau
          Nghe đọc thì hai câu này được anh sửa thành: “Kiến con đi trước, kiến già đi sau”. Vậy là không có tôn ty trật tự, không hợp với cách ứng xử của người Việt Nam mình anh Khoa ạ. Không ai cho trẻ con đi trước, tức là liền sau linh cửu vì sự tôn nghiêm đã đành mà còn vì xót đám trẻ, không nên để cái phần âm ám vào bọn nó.
          Hai câu tiếp anh cũng sửa:
Cầm hương kiến đất bạc đầu
Khóc than kiến cánh khóac màu áo tang
          Theo trí nhớ của tôi thì ngày trước anh viết: “Cầm hương cụ kiến bạc đầu/ Khóc than kiến cánh khoe màu áo tang”. Thôi thì “cụ kiến” hay “kiến đất” cũng được. Mà cho kiến đất cầm hương thì có đủ thêm loài kiến. Nhưng  “Khóc than kiến cánh khoe màu áo tang” hay hơn, ít nhất cũng hợp hơn với cảnh đám viếng mà tôi đang thẩn thơ ngắm nhìn đây. “Kiến cánh” bây giờ nhiều lắm anh Khoa ạ. Họ may sẵn hẳn vài bộ quần áo tang, nghĩa là màu đen, không phải bằng vải xô đâu mà bằng vải đẹp hẳn hoi, may theo mốt hẳn hoi. Và chờ có đám tang thì họ diện (như anh dùng chữ “khoe” ấy) và lăng xăng chạy ra chạy vào, đôi kẻ mau nước mắt còn vờ vịt than khóc để tỏ ra là mình có nghĩa, có tình, để làm xúc động những người họ đang muốn lấy lòng tin.
          Nhưng kinh hoàng là loài kiến lửa: “Kiến lửa đốt đuốc đỏ làng”. May quá, câu này anh không sửa, trong khi có thể cần chỉnh vì sự vô lý: đám tang bác giun diễn ra buổi trưa mà sao kiến lửa “đốt đuốc đỏ làng” được. Nhưng trong sự vô lý ấy tôi thấy có sự hợp lý vì tôi nhìn thấu tâm can những “con kiến lửa” đang bâu quanh anh Sơ của tôi đây. Khổ thân anh Sơ! Chúng nó đốt đau lắm anh à, sưng cả người lên ấy. Không phải chúng đi đưa tang anh đâu. Chúng nó đang xâu xé anh đấy. Lại còn vừa ăn cướp vừa la làng. Cứ xem cái cách chúng ngang nhiên “đốt đuốc” ấy. Thôi không thèm chấp cái loại người vô nhân tính ấy.
          Bây giờ hãy xem kiến kim và kiến càng: “Kiến kim chống gậy, kiến càng mang mai”. Đây đích thị là những người tốt, những người thực lòng,  chịu khó gánh lấy cái phần việc vất vả nhất đối với người đã khuất: đào huyệt! (Xin anh Khoa đừng giao cho kiến càng cái việc khiêng quan tài “nặng vai”. Cứ để kiến càng vác cái mai xen đất để nó tỏ được cái tình, cái nghĩa của nó).
          Cuối cùng là:
Kiến đen uống rượu la đà
Bao nhiêu kiến gió chạy ra chia phần
          Xin đừng trách kiến đen. Đám tang nào mà chẳng có người say. Có kẻ nát rượu mà say, nhưng cũng có người buồn mà uống cho say đấy. Thực ra họ cũng vô tứ, vô tâm, không có ý đồ gì trước sự ra đi của một con người. Đáng trách, đáng giận, đáng phỉ nhổ là lũ kiến gió. Khi bác giun mất chẳng biết trốn đi đằng nào, sau khi “Đám ma đưa đến là dài/Đi qua vườn chuối, vườn khoai, vườn cà” mới chịu thò cái mặt ra “chia phần” quả thực. Vội đến nỗi có cánh nhưng không kịp khởi động để bay mà chạy ba chân bốn cẳng.
          Thưa anh Sơ! Tôi vừa nhẩm đọc cho anh nghe bài thơ của anh Trần Đăng Khoa. Rất có thể lúc viết bài Đám ma bác giun Trần Đăng Khoa không nghĩ như tôi khi đi viếng anh. Xin anh đừng buồn nơi chín suối. Cuộc đời ấy mà.
          Tây Hồ, tháng 5/2012

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

KHÔNG NGỜ GẶP LẠI ..."NHÀ CÓ MA"

                 Mấy tuần trước, trò chuyện với mấy anh biên tập Suối reo, họ đều nhớ mang máng cái  giọng kể và cốt truyện phù thuỷ ám ánh..., nhưng không ai biết, cứ ngỡ Song Hào là bút danh của một thư ký vụ Uỷ ban về văn xã, hoặc giả là cây bút Xuôi nào ...? Tình cờ hôm nay, mình cứ nằng nặc xin đọc tuyển thơ văn Sơn La, cho bõ cơn nghiền. Chao ôi! không thể tin nổi. Trang đầu là anh Xanh mở bài viết của anh, dưới bút danh Hằng Tâm. Sau đó, mình giở ngay Song Hào và truyện ngắn " Nhà có ma"! Một luồng điện sướng làm mình bật dậy" Của tôi đây rồi! Nhà có ma của tôi được chọn  in rồi đây!
                      Mọi người chia vui. Mình sướng. Trước hết, mình không hề gửi bài cho Suối Reo, mà chỉ gửi báo Sơn La thôi, ngày đó thật đặc biệt. Đó  là số đầu tiên in 2 mầu, đẹp. Và lại là hưởng ứng cuộc vận động triệt phá, không gieo trồng cây thuốc phiện! Mình không chính trị, chính em, cũng không sáng tác theo phương pháp hiện thực XHCN nào cả. Đơn giản mình thấy thế. Sự thật thế. và tưởng tượng ra thế!
                       Cái nhà ngai ngái  mùi ẩm mốc... có tưởng tượng ra chuyện con rắn... là nhà mình tá túc hồi ấy, do bác Nguyễn Hữu Cẩn, giám đốc bệnh viện cho mượn ở. Cái lạ là, dưới gậm giường mình nằm, mối cứ đùn lên, dăm bữa đã đến giát giường, phải xuc đi . Đương nhiên mái nhà, võng sát kèo tấp giấy dầu... là nguyên bản, chẳng sáng tác gì sất..
                   Xin được thắp nén hương lòng để tưởng nhớ người quá cố. Mình viết về anh ta, lúc đó chưa hề gì, nhưng xem ra sẽ suy sụp. Ở nhà mình, đêm đêm nghe rõ tiếng nõ điếu  reo xeo xeo..., mấy đứa còm nhom chầu chực trong ánh đèn thắp mỡ vàng vọt...mình tưởng tượng ra điều khủng khiếp... rồi một lần bạo dạn nói bóng gió với bà  Bẩy ! ... Truyện in ra, do anh Trần Thanh Bình- bạn mình, lúc đó là thư ký vụ UBND tỉnh lách (!). Chuyện qua rồi, chỉ nhớ, khi  sang báo Sơn La chơi ( hồi sửa trụ sở Sở VH bên cạnh) có anh Tổng hay phó gì đó khen lắm, phổng mũi nhưng chẳng dám viết gì thêm. Đứt mấy đêm ròng của em đấy bác ạ !
                        Vậy nên nay post lên, cái ngày nông nổi, hăng tiết vịt!
                                       
                                      NHÀ CÓ MA
Ngôi nhà gianh cũ kỹ, mái võng sát kèo, được tấp lên mấy miếng giấy dầu vẫn giột, là nơi hai bố con ông ấy trút hơi thở tàn, bi thảm mà khó hiểu.
                Mười năm trước, khi ông chết, bà cúng lễ đã nhiều. Vách nhà giờ đây còn  dán những lá bùa vàng úa. Mới rồi đứa con con trai duy nhất của bà còn chết thê thảm hơn. Bà lại mời thầy cúng.
                Trong khói hương nghi ngút, bà ngồi bất động, ánh mắt mệt mỏi, hờ hững xa xăm. Bà nuối tiếc quãng đời thanh xuân phơi phới của vợ chồng bà. Ông chồng từng là kiện tướng nông trường, cường tráng và mạnh mẽ biết bao. Rồi không biết tự khi nào, ông ấy hay nằm góc kia, đầu gối cao. người quắp lại, khoan thai nhả khói mơ màng…
              - Đời phải nếm tận cùng sướng khổ em ạ. Vui, chúng bạn họ cho ấy mà…
               Các bát hương trên bàn thờ được gió cháy rần rật. Lão thầy cúng lảm nhảm đọc bài ca đều đều bất tận. Bà nhắm mắt lại, như vẫn còn kia, con người bà vừa yêu vừa giận, hình hài gầy khô, da xám ngắt; còn đâu đôi môi cương nghị, chỉ có hai hốc sâu và cái nhìn trắng dã, có lúc long lên dữ tợn. Rồi bọt mép sùi ra…Ông ấy đi do cơn nghiền hành hạ, đã đạp đổ nồi cám lợn đang sôi, nước lại đọng ở nền trũng lõm, nơi ông ấy ngã lăn và giẫy gịua. Xóm giềng bảo ông bị kinh giản. Bà biết, không phải vậy.
                 Lão thầy cúng bỗng thét lên, nhảy loạn xạ tay chống nạnh, tay huơ huơ nắm nhang cháy đỏ, chỉ lung tung rồi dừng lại trước mặt bà. Bà lão mở bừng mắt, sợ hãi nhìn hắn trừng trừng rồi hai tay bưng mặt, cái đầu cứ gập xuống, gập xuống theo nhịp thanh la, chạm đất.
              Trời ơi, đứa con trai hiếm hoi và muộn mằn của bà được sinh ra khi ông ấy bắt đầu tàn lực, mới đẹp làm sao? Bà quý như hạt ngọc. Bà mỉm cười mỗi khi nó làm bộ phập phồng cánh mũi, lúc góc giường bố nằm làn khói trắng phả lên. Lớn tý nữa, nó thường kiếm cớ lượn lờ quanh giường bố, nạo giúp sái. Lớn tý nữa, nó biết xin mỡ về tiêm cho bố, chỉn chu lắm.
            - Mày là con ma. Con ma nhập vào mày bắt đàn ông nhà này đi! Này sát phu! Này sát tử! Này sát đinh!...Cứ thế,  lão thầy cúng mỗi lần lên giọng luận tội, lại  vụt vun vút vào thân thể gầy còm của bà bằng bó cành dâu to tướng. Bà cũng vật vã, đấm ngực thình thịch, sám hối: Tại tôi, tại tôi… rồi thiếp đi mê man. Làn khói xanh nhờ, từ hai bát hương lững thững kéo lên trời.
            Nó lớn lên trong thời đổi mới tư duy, bỏ học bắt bà mua cái đài chạy ắc quy để tu luyện đức tài với những bài hát buồn não ruột. Rồi bạn bè, những đứa không có việc làm kéo đến nằm ườn. Tối tối mới là thời gian sống của chúng. Bà đã chửi mắng nó bao nhiêu, ngon ngọt đủ điều, nó vẫn không chừa. Bà từ nó, không thèm nhìn mặt, ở luôn cái quán nhỏ ven đường bán nước sống qua ngày. Cho đến một hôm, khủng khiếp quá.
            Con rắn ấy sinh ra ở dưới gốc gậm giường này, nên ăn tự được một gia tài đồ sộ. Từ lâu lắm rồi, mỗi khi cái mùi quen thuộc bốc lên ở trên giường, thì ở dưới gậm, nó chỉ việc nằm khoanh tròn chờ đợi. Các giác quan của nó căng ra, tận hưởng tý hương thừa. Rồi bất thần, nó quăng cổ, tợp gọn chú nhái con đang ngơ ngác vì cái mùi quyến rũ…
             Thế nhưng, mấy ngày nay nó đói. Nó không biết con người đang săn lùng, huỷ diệt cái chất nó đang thèm. Nhưng nó vẫn ngại ra ngoài kiếm ăn. Nấn ná mãi nó mới rời tổ, uể oải lết đi. Bỗng mắt nó sáng lên, khứu giác tinh nhanh của tổ tiên đã mách bảo nó điều gì. Dóng cao cổ lên quan sát rồi định hướng. Một con vật to tướng đang giẫy giuạ. Đúng là từ đó toả ra cái mùi quen thuộc, dù rất mơ hồ, phảng phất. Nó trườn lên, do dự. Đói khát, và thèm nữa hành hạ nó dữ dội. Nó bỗng thấy khoẻ lạ thường, thoăn thoắt trườn áp sát đối thủ đang ngúc ngoắc thở. Vướng víu, cái đầu nó phải xoay liên tục, ráo riết. Cho đến lúc cái lưỡi nhỏ dài của nó chạm được nguồn sống. Đấy là lúc mồm đối thủ nấc ợ lên một cái, dòng dãi từ miệng túa ra. Nó khoan thai tận hưởng. Rồi cứ thế, mỗi lần cạn nó lại gồng người lên, thúc đầu vào sâu nữa.
                   Bà hét lên kinh hoàng, đổ xuống.
                   Trong mơ, trong mầu đen nhão bà thấy mình bị quỷ sứ bắt đi trên cái cầu bẩy sắc cầu vồng, mỏng manh, lắt lẻo, ở dưới nhấp nhánh mầu lân tinh của những con rắn đang nghển cổ chờ.
                   Bà đã hét hoảng loạn bao nhiêu lần như thế trong bệnh viện tâm thần.
                            
                              Sơn La, ngày 8-11-1993

 

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Tiếp thu và nâng cấp

                      Sau khi Huyền thoại ngã ba sông được Văn nghệ Nam Đinh đăng, đã có lời khích lệ, và  cũng được nhiều lời khuyên cần trau chuốt cho mượt hơn nữa. Sướng nhất được anh Tình khen câu" Giọng ca thôn nữ xôn xao sóng/đẹp ý quân vương giấc mộng vàng, nghe như Nguyễn Nhược Pháp ! Chẳng biết ảnh khen thật lòng không, nhưng cứ  tự sướng cho phổng lỗ nhĩ đã!
                     Vâng, làm thơ cần nhất là phải có tư duy hình tượng, mà với mình đó là điều khát từ nhỏ. Vậy nên, sở trường của mình là sự kể  lể có chút vần đó thôi, chưa long lanh thơ được! Chẳng phải cứ xuống nước mãi rồi phải bơi như bạn PĐX mách đâu!
Nay xin đăng lại một số câu đã được" nâng cấp" từ "đống rác cũ":

           Gió chợt lặng, nắng rơi vàng Độc Bộ (1)
            Đáy  sông xanh vò quặn sóng Đào hồng
            Thoáng ký ức khói sương mờ tỏ
           Chớp loé! đường gươm rạch trời xưa
           ( con gái rơi đầu còn níu lưng vua)
            Sấm nấc
             - ngựa chiến gầm phẫn nộ:
            -Trẫm thân rồng, cứu nổi giang sơn ?

            Máu ròng oan nghẹn nương cửa bể
            Ngàn dâu sướt mướt khúc tằm tang
            Mỗi gịot hồn thiêng hương khói toạ
            Phụng thần nhân, hậu thế dựng làng

            Rừng chân sóng, ai lầm than đốt củi
            Nung chí vương chuộc tội, lập công
            Gió linh cuồn cuộn rinh thuyền lướt
            Duyềnh sóng Vân Đồn, đắm giặc Nguyên (2)
 ........
Khi cho bạn  văn xem, có người phê là viết sai chính tả, chữ ròng  ( họ bảo dòng), hoặc rinh (=dinh) làm mình cẩn thận tra lại từ điển!
Ôi làm thơ khó thay!

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

GIẢI OAN

         Hôm qua, khi tải bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha về..., mình hơi băn khoăn, một câu thơ trích trong bài Sinh của Đ.D.P " Những cái cây cắm sâu xuống đất như bị chôn sống"; NTK phê" câu thơ này không VN, sự tuyệt vọng này quá non nớt..."
       Mình không có văn bản của Đ.D.P, nhưng cảm về sự sống như chết này, thì đã nhiều!
       Liệu có phải Đ.D.P viết về những cây cảnh cổ thụ, được đào về chôn sống để làm cảnh cho các biệt thự ,trụ sở cơ quan. rồi các khu du lịch sinh thái ...cho cổ kính đó chăng, mà để một cây sinh, phải hàng trăm, thậm chí hàng ngàn cây bị bức tử !!!

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Phu chữ

Làm chữ
Bài viết của Trần Quốc Toàn đăng trong Thơ.com
..................
Ai bảo quá mù sẽ hóa mưa
Nửa đang thao thức nửa mong chờ
Thiên hà vắng lặng đêm khuya khoắt
Để một mình em hứng giọt xưa.
(Nguyễn Ngọc Minh – Mưa bụi)
Đọc tứ tuyệt Mưa bụi này với con mắt học nghề, dễ nhìn ra sự vận hành của một dây chuyền sản xuất chữ. Nguyên liệu đầu vào là một quý kim ngôn ngữ già tuổi, là một câu tục ngữ Quá mù ra mưa. Nhưng dù quý thì đó vẫn chỉ là nguyên liệu, là thứ pha trộn giữa thao thức và mong chờ như một ông thợ phân kim ra tay nghề. Và người thợ kim hoàn xuất hiện, vít cái cần đêm, kéo thiên hà xuống, ném như vắt để hiện tại đang còn ngổn ngang kia nhểu xuống một giọt quá khứ, một giọt chữ vừa chưng cất xong – giọt xưa. Đó là giọt trong tinh khiết hay giọt mặn xót đau thì cũng chỉ một mình em hứng, một mình em biết !
Cái cách làm chữ của Mưa bụi là tạo một kết hợp mới cho hai âm tiết cũ, chiết ra từ giọt mưa ngày xưa một từ mới giọt xưa .
 Một cách làm chữ khác có đến hai tác giả dung, là cách ghép nghĩa ảo vào một từ thực :
Cây khô nhiều năm nghe mỏi
Đợi gió bẻ cành để rơi
Xa em nhiều năm tôi đã
Đánh rơi gần hết nụ cười.
(Huỳnh Hữu Võ – Đánh rơi nụ cười)
Rơi là một động từ trăm phần trăm thực nghĩa, nhưng trong rơi rụng thơ ca lần này, nó phải ảo để góp phần thực hóa một nỗi buồn. Nhưng đã ảo để góp phần thực hóa một nỗi buồn. Nhưng đã ảo thì cứ đi tới cùng sự mơ hồ cho phép, cứ đưa tay nhặt nụ cười ai đánh rơi để mà tưởng tượng được hôn lên cặp má hồng kia :
Trèo lên cây hái quả
Đạp rụng chùm nắng tươi
Thấy em hồng hai má
Leo xuống nhặt nụ cười
(Nguyễn Thiền Nghi – Hái quả)
Phải dụng công như thế mới mong có thơ hay, mới mong đạt được tới trình độ không cần dụng công thơ vẫn hay ! Đó là cái hay của chữ nằm tả chân rất thật thà của cụ Nguyễn Khuyến trong một lần Nhớ cảnh chùa Đọi :
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá
Sư cụ nằm chung với khói mây.
Khéo quá ! Tả người nằm lại thấy sương khói bước vào. Đưa ra chữ nằm rất tĩnh mà tạo được cả một ngữ cảnh động bảng lảng sương khói. Chữ ấy bảo hiền lành thì còn gì hiền lành hơn ! Mà bảo là nghịch ngợm thì, xin thưa, cũng nghịch đến điều. Gặp được một chữ như thế, kẻ yêu thơ này vừa chắp tay xá vừa tủm tỉm cười !

Lắng nghe

NSH: Thực mình khá băn khoăn về sự cách tân thơ của các nhà thơ đương đại! Càng hoang mang khi không cảm thụ nổi một số bài của các tác giả nổi tiếng hiện nay như NQT, LKM, rồi ĐDP và ĐTPT...
Hay ở chỗ nào, mình nên nghe các nhà thơ, phê bình thơ "thẩm" để mình ngẫm sau vậy!
D][í đây là trả lời Pv của nhà thơ Nguyễn Thuỵ Kha

Hãy giữ gìn thơ Việt, đừng giết chết thơ Việt
Năm 2011, Hội Nhà văn Việt Nam (VN) trao giải về thơ cho tác phẩm Hoan ca của Đỗ Doãn Phương và Ngày linh hương nở sáng của Đinh Thị Như Thúy. Có ý kiến cho rằng đây là cuộc bứt phá của thơ ca Việt hiện đại, nhưng cũng lại có ý kiến cho rằng đây là hai tập thơ vô lối, một sự cách tân theo hướng tắc tị. Đánh giá của anh như thế nào?
Tôi cho rằng việc mạnh bạo trao giải thưởng cho những tác phẩm mới có bứt phá là rất đúng. Nhưng tôi có một cách nhìn khác, từ khi bắt đầu làm thơ cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn nghĩ là phải nâng niu những câu thơ tiếng Việt vì dân tộc ta có truyền thống thơ ca từ rất lâu rồi. Việc phát hiện và nhìn nhận ra thơ trẻ cũng là một trong những điều thế hệ chúng tôi đặt ra mình phải làm và chúng tôi cũng đã phát hiện ra nhiều gương mặt: Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh… Trong tiến trình đó, việc làm mới thơ Việt là rất cần thiết, nhưng quan trọng nó phải là thơ Việt. Khi tôi viết Những giọt mưa đồng hành, tôi dùng thủ pháp đồng hiện của châu Mỹ Latinh áp dụng vào thơ Việt Nam.
Thơ ca luôn cần sự bứt phá.
Khi bài thơ được giải thưởng, nhà thơ Trinh Đường gặp tôi bảo, thơ Kha hơi bị Tây! Nhưng tôi nói lại với nhà thơ Trinh Đường rằng, tôi ví người con gái nhập vào giọt mưa là thiên nhiên thì như vậy, thơ tôi mang chất phương Đông chứ. Con người hòa nhập thiên nhiên là chủ thuyết của phương Đông, con người mà chống lại thiên nhiên mới là phương Tây. Hay khi viết Hà Nội ngũ hành, tôi làm bằng nhịp ngũ hành, sắc sắc không không của kinh dịch: Ra năm cửa ô ngoái về thương nhớ/Nhìn sang Đông Âu bao điều sụp đổ/Thương thời chiến tranh thời áo bông xanh/Thời gạo sổ găm mười ba cân rưỡi – rất hiện đại nhưng nhịp lại rất cổ điển. Đó là sự kết hợp của từng nhà thơ, quan niệm của tôi là như vậy.
Còn với những tác phẩm của ngày hôm nay, tôi nghi ngờ rằng, bây giờ có rất nhiều luồng thơ đến từ trên mạng và từ nhiều phía đổ vào, có thể nó làm nhiều nhà thơ bị choáng, thậm chí là mụ mị đi và tự thấy phải làm như thế mới là thơ hiện đại.
Cụ thể là…
Chẳng hạn có một câu thơ của Đỗ Doãn Phương mà tôi có thể ngồi cãi nhau với Phương cả tỷ lần về điều này. Trong bài Sinh, Phương viết: Những cái cây cắm sâu xuống đất như bị chôn sống – câu thơ này không Việt Nam, sự tuyệt vọng này quá non nớt. Người ta phải chấp nhận kể cả chết vẫn phải sống và vẫn phải sống trong cái chết. Thực sự tôi không thấy câu thơ này hay ở chỗ nào. Hay Phương viết: Thiên Nhiên mở ra vòm tử cung Bà Mẹ (Sinh). Các cụ ngày xưa gọi là “ăn nằm” với nhau, tránh đi những cái gì không mang chất thơ. Hay anh Đào Trọng Khánh đã viết: Thành phố ăn nằm với biển/Đẻ ra một lũ cần lao - hiện đại vô cùng.
Ở đây, anh cứ tưởng nhặt cái gì không thơ vào thì thành thơ. Hình ảnh đó thực ra chỉ là một động tác cơ học hết sức nghèo nàn, không có gì mới, ví sự sinh nở của thiên nhiên. Tôi cho rằng, đây có thể là sự ngộ nhận, cho rằng phải khác đi như thế. Đấy là truyền thống của thơ phương Tây, nhưng các bạn đã bị mụ mẫm và trượt đi. Chúng tôi không đến nỗi cổ hủ để không biết phải chấp nhận tinh hoa. Nhưng thơ cần phải giản dị, thơ không thể khuếch trương được. Thơ chỉ làm những gì văn xuôi không làm được, điều ấy mới quan trọng. Tôi có một lời cầu xin, hết sức thành thực, thậm chí tôi có thể quỳ dưới chân các nhà thơ trẻ: xin hãy giữ gìn thơ Việt, đừng giết chết thơ Việt. Chiến tranh đã giết chết nhiều người Việt Nam rồi, bây giờ lớp trẻ lại tàn sát nốt cả giọng điệu thơ của người Việt thì không thể chấp nhận được. Nếu cần thì phải chống lại đến cùng để giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ Việt.
Anh nhìn nhận thế nào về xu hướng thơ hiện đại?
Thơ rất cần tiến tới sự hiện đại, nhưng mà phải bình tĩnh. Tôi rất thiện cảm với tập Những kỷ niệm tưởng tượng của anh Trương Đăng Dung mà Hội Nhà văn Hà Nội vừa trao giải, đấy là một sự tìm tòi, một sự cách tân. Chẳng hạn anh Dung đưa ra chuyện phải chiến đấu với bóng đêm để giành lấy người con gái.Bóng đêm chiếm em nhiều hơn anh – đấy là một tư tưởng hiện đại, mà lại là vấn đề nhân loại.
Chúng ta không thể nhại bằng ngôn ngữ Việt giọng điệu các nhà thơ phương Tây của một thời kỳ rất xa để thành những nhà thơ Việt Nam của thế kỷ bây giờ rồi bảo đấy là thơ Việt hiện đại – đó là một sự nhầm lẫn.
Ðổi mới không phải sự quái dị, không phải sự kỳ dị và càng không phải sự lập dị
Thơ của tác giả Trương Đăng Dung là cách tân, của Đỗ Doãn Phương cũng là cách tân. Vậy theo anh, thế nào là thơ cách tân?
Cách tân là làm mới một cách làm cũ. Thơ của anh Trương Đăng Dung là cách tân, của Đỗ Doãn Phương là tân kỳ. Hai tác phẩm vừa được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam đều có phẩm chất của thơ, nhưng họ đang quá mong manh đi bên bờ vực của cái hết sức cũ. Thơ vô cùng cần sự khôn ngoan và sâu sắc. Mỗi người làm thơ phải tự đổi mới mình. Các bạn trẻ cần sự cách tân, nhưng ngàn lần tôi muốn nói rằng, muốn người ngoại quốc biết cái hay của thơ Việt thì phải bám vào ngôn ngữ Việt.
Chẳng ai phản đối sự cách tân cả, nhưng làm gì thì cũng phải có mục đích, nhất là cách tân thơ không phải là việc dễ dàng mà cần bản lĩnh và tài năng. Vậy cách tân thơ theo anh để làm gì?
Tôi nghĩ không những cách tân mà còn phải tân kỳ. Thơ mãi mãi cần sự mới mẻ và mỗi người làm thơ luôn phải đổi mới. Nhưng sự đổi mới không phải sự quái dị, không phải sự kỳ dị và càng không phải sự lập dị.
Nhưng thơ dù cách tân hay tân kỳ thì cũng phải để công chúng hiểu chứ.
Công chúng đối với nhà thơ là vấn đề tôi rất quan tâm. Thực ra thơ để công chúng đọc là một loại thơ, có lẽ tiêu biểu nhất ở Việt Nam là thơ của Tố Hữu. Cho đến nay, những câu thơ của Tố Hữu vẫn không ra khỏi tôi, nhưng nếu bảo tôi làm thơ như Tố Hữu thì tôi không bao giờ làm. Có thể thơ tôi ít công chúng hơn, nhưng mỗi người có một khu vực công chúng, không thể đổ đồng công chúng là một đám đông không có tên tuổi.
Tôi còn nhớ câu chuyện anh Phạm Vĩnh Cư kể rằng, thời kỳ Pasternak làm thơ thì chính Phadeleep lúc đó phụ trách Hội Nhà văn Liên Xô báo cáo với Xtalin rằng, nước ta có một nhà thơ làm thơ không ai hiểu cả. Nhưng Xtalin nói, Liên Xô rất cần những nhà thơ làm thơ không ai hiểu cả. Cao Bá Quát cũng từng nói: Thơ mà cứ cố tình hiểu thì chỉ dại thôi. Theo tôi, không nên quá chú trọng vào vấn đề công chúng, nhưng cũng không vì thế mà làm những bài thơ chẳng ai hiểu nói gì. Cũng có những người đi đến cùng của sự tìm tòi như nhà thơ Dương Tường, nhưng anh có sự từng trải.
Cần phải có sự từng trải khi tổ chức thi ảnh, tổ chức giai điệu thơ. Thơ có thể 99% là tài năng, còn 1% là từng trải... Bây giờ cứ nhìn lại xem, các nhà thơ khi được giải Nobel không ai dưới 70 tuổi, trước đó mọi sự chỉ là tập dượt, khi có sự từng trải mới thành công. Nhiều người bây giờ cứ hay dùng thơ trang trí, thôi thì làm gì cũng được nhưng đừng giết chết thơ. Mà thơ Việt không chết được đâu, dù anh có đổ một đống các thứ gọi là cách tân thì thơ Việt vẫn vươn lên một cách đàng hoàng. Thơ Việt không phải là “những cái cây cắm xuống đất như bị chôn sống”, mà là những cái cây vẫn xanh kiểu Việt Nam.
Cứ có cảm giác các nhà thơ trẻ hiện nay đang có xu hướng ngoại lai một cách vội vã, muốn đổi mới, nhưng dường như người ta mới chỉ chủ trương viết như thế nào (hình thức) chứ chưa chú trọng viết cái gì (nội dung)?
Tư tưởng làm thơ phải khác người khác là rất chuẩn, có thể có cả tỷ người vội vã, nhưng cứ để họ thi đấu, người nào trụ được thì còn lại. Đôi khi sự công bố cũng chỉ là sự công bố, cái người ta sợ nhất vẫn là cái chưa công bố và người ta vẫn còn chờ đợi.
Các nhà thơ hiện nay đang trong hội chứng dở nếp dở tẻ, không hồn nhiên được nữa, mà già dặn thì chưa tới. Thêm vào đó là hội chứng ham nổi tiếng. Cần phải biết theo cách nào. Có những người nổi tiếng chính bằng sự vô danh. Nhưng bây giờ tìm sự bình thường vô cùng khó. Dù vội vàng đến mấy thì cũng không nên vội vàng với thơ. Có một câu châm ngôn rằng: hãy vừa cày ruộng và vừa chờ chết. Có thể anh sẽ đi một chuyến vô tăm tích và không được gì cả, nhưng vẫn thực là anh.
Vậy thì theo anh, hành trình của sự đổi mới thơ phải như thế nào?
Hành trình đổi mới thơ đối với tôi chỉ gói gọn trong 8 chữ: dân tộc đích thực, nhân loại tiên phong. Hiện nay, có nhiều nhà thơ Việt làm thơ bằng tiếng Anh, tôi thấy rất thú vị, nhưng như thế không có nghĩa là thay thế được thơ Việt. Thơ Việt phải làm bằng tiếng Việt và phải đi đến tận cùng của tiếng Việt thì mới thấy nhân loại xung quanh.
Xin cảm ơn anh!
Lan Hương(thực hiện)
Nguồn suckhoedoisong.vn

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Một câu thơ hay

Anh Đinh Hữu Xanh ( TBT Suối reo) bảo mình: Mai Văn Tý cũng không phải dân Văn đâu, nhưng viết rất được ! rồi cho mình xem vài bài  của anh Tý mới đăng. Khá ấn tượng. Ví như bài Châu mộc một chiều mây trắng bay
Nhớ gió run gầy năm ngón tay
Người xa thăm thẳm biết bao ngày
Người đi một bước, thương một bước
Châu Mộc mùa này mây trắng bay


Lúa chín rồi đây ngô đọng hạt
Thu kịp hoang liêu một dãy đồi
Tìm tôi lối cũ, tôi tìm lại
Chỉ gặp một trời mây trắng bay


Người có thương thì trở lại đây
Cỏ hoa thì vẫn cỏ hoa này
Đồi xưa vẫn rẽ đường xưa cũ
Sao chỉ một trời mây trắng bay


Người ở cuối hè kẻ cuối đông
Mùa thu giăng mắc sợi tơ hồng
Ngọn lau phơ -phất chiều biên ải
Khua trắng một trời mây trắng bay
                        Mộc Châu, thu Tân Mão
                      ( Suối reo số ĐB năm 2011)

             Tứ thơ chủ đạo, day dứt người đọc Một chiều/ một trời mây trắng bay mãi khôn nguôi.
             Mình đã từng ở vùng này, từng xao xuyến về những bình minh và hoàng hôn trên cao nguyên Châu Mộc, từng hít thở không khí trong lành rười rượi mát,  giấc ngủ thật đằm, thật yên bình, và cả những con người chân thật, mộc mạc nữa, làm người ta" đi một bước, thương một bước"... Nhưng mình ăn, làm, ngủ nghỉ ở đất này... dễ đến 3,4 tháng hết mùa thu, và gần hết cả mùa đông ... hồi làm nhà, xưởng chế biến  chè cho công ty ông Yasuda ( Nhật Bản) mà  chẳng viết được một chữ nào, còn anh Tý  chẳng biết ở lâu mau sao mà có hẳn một bài dầy dặn thế, thật quý!
                Đáng nể nữa là, nay vào mạng, lại gặp tứ thơ này trong" Những câu thơ hay" được anh sửa lại như sau:
     Lúa đã vàng rơm ngô đọng hạt
    Bê con lạc mẹ cuối chân trời
    Vườn cũ đợi người hoa nở muộn
    Sữa trắng pha mầu sương trắng bay
Câu thơ hay lên rất nhiều bởi các hình ảnh: Bê con lạc mẹ thay cho Thu đã hoang liêu...
                                                                         Vườn cũ đợi người hoa nở muộn thay cho Tôi tìm lối cũ...
đặc biệt thích là: Sữa trắng pha mầu sương trắng bay thay cho
                             Chỉ gặp một trời mây trắng bay nghe nó tội tội thế nào ấy
Ai đã từng thấy cảnh cô gái, chị gái ( thường là phụ nữ) mặc đồng phục bảo hộ lao động, quấn khăn, đi ủng...( Quy định bắt buộc để bảo đảm vệ sinh) gánh đôi thùng thiếc ra trạm cân sữa, đổ xô suối sữa trắng muốt vào bồn...trong những buổi sớm mai mới thấy sự rung động tinh tế của người viết. Câu thơ vì thế ấm áp,  rất gợi ...
                  Gợi riêng cho mình: Chú bê con nào đây sắp được gặp bố rồi !He he... phải thế không anh Mai Văn Tý?